Rung tâm thất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Rung thất (Ventricular fibrillation - V-fib hoặc VF) là tình trạng tim rung thay vì bơm máu do rối loạn hoạt động điện trong tâm thất.[1] Đây là một loại rối loạn nhịp tim. Rung thất dẫn đến ngừng tim mất ý thức và mất mạch.[2] Tình trạng này dẫn đến tử vong trong trường hợp không được điều trị. Rung thất được tìm thấy ở khoảng 10% số người bị ngừng tim.

Rung tâm thất có thể xảy ra do bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh cơ tim, hội chứng Brugada, hội chứng QT dài, sốc điện hoặc xuất huyết nội sọ.[1][3] Chẩn đoán bằng điện tâm đồ (ECG) cho thấy các phức bộ QRS không hằng định, không rõ sóng P. Cần chú ý chẩn đoán phân biệt với xoắn đỉnh.[2]

Điều trị bằng hồi sức tim phổi (CPR) và khử rung tim. Khử rung tim hai pha có thể tốt hơn so với đơn trị liệu.[4] Thuốc epinephrine hoặc amiodarone có thể được bổ sung nếu phương pháp điều trị ban đầu không hiệu quả.[2] Tỷ lệ sống của những người ra viện khi phát hiện rối loạn nhịp là khoảng 17% trong khi ở bệnh viện là khoảng 46%.[5]

Dấu hiệu và triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Rung tâm thất là một nguyên nhân gây ngừng tim. Cơ tâm thất co giật ngẫu nhiên thay vì co bóp theo kiểu phối hợp (từ đỉnh tim đến dòng chảy của tâm thất), và do đó tâm thất không bơm máu quanh cơ thể - vì điều này, nó được phân loại là thuộc về hiện tượng Ngừng tim, và bệnh nhân bị V-fib nên được điều trị bằng hồi sức tim phổikhử rung tim nhanh chóng. Nếu không được điều trị, rung tâm thất sẽ nhanh chóng gây tử vong vì các cơ quan quan trọng của cơ thể, bao gồm cả tim, bị thiếu oxy và do đó, bệnh nhân trong nhịp này sẽ không có ý thức hoặc phản ứng với các kích thích. Trước khi ngừng tim, bệnh nhân có thể phàn nàn về các triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản. Bệnh nhân có thể có dấu hiệu thở đau đớn, mà đối với một người có thể trông giống như thở tự nhiên bình thường, nhưng là một dấu hiệu của việc sốc tuần hoàn của thân não.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Types of Arrhythmia”. NHLBI. 1 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2016. 
  2. ^ a ă â Baldzizhar, A; Manuylova, E; Marchenko, R; Kryvalap, Y; Carey, MG (tháng 9 năm 2016). “Ventricular Tachycardias: Characteristics and Management.”. Critical Care Nursing Clinics of North America 28 (3): 317–29. PMID 27484660. doi:10.1016/j.cnc.2016.04.004. 
  3. ^ Barash, Paul G. (2009). Clinical Anesthesia (bằng tiếng Anh). Lippincott Williams & Wilkins. tr. 168. ISBN 9780781787635. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2017. 
  4. ^ Neumar, RW; Shuster, M; Callaway, CW; Gent, LM; Atkins, DL; Bhanji, F; Brooks, SC; de Caen, AR; Donnino, MW (3 tháng 11 năm 2015). “Part 1: Executive Summary: 2015 American Heart Association Guidelines Update for Cardiopulmonary Resuscitation and Emergency Cardiovascular Care.”. Circulation 132 (18 Suppl 2): S315–67. PMID 26472989. doi:10.1161/cir.0000000000000252. In the appendix 
  5. ^ Berdowski, J; Berg, RA; Tijssen, JG; Koster, RW (tháng 11 năm 2010). “Global incidences of out-of-hospital cardiac arrest and survival rates: Systematic review of 67 prospective studies.”. Resuscitation 81 (11): 1479–87. PMID 20828914. doi:10.1016/j.resuscitation.2010.08.006.