Sói đảo Vancouver

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sói đảo Vancouver
Chapultepec Zoo - Canadian wolf (01).jpg
Chapultepec Zoo - Canadian wolf (02).jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Canidae
Chi (genus) Canis
Loài (species) C. lupus
Phân loài (subspecies) C. l. crassodon
Danh pháp ba phần
Canis lupus crassodon
Hall, 1932 [1]

Sói đảo Vancouver (Danh pháp khoa học: Canis lupus crassodon) là một phân loài của loài sói xám, chúng là loài bản địa của đảo Vancouver, British Columbia, thuộc nước Canada ở Bắc Mỹ. Chúng là một loài có tính xã hội cao, sinh sống theo bầy đàn với mỗi đàn từ 5 đến 35 cá thể. Chúng là một phân loài thuộc diện loài nguy cấp, chúng nhút nhát và hay lẩn tránh con người[2]

Một số con sói trong khu bảo tồn thỉnh thoảng hay tấn công và giết chó nhà[3] Hiện nay trong môi trường nuôi nhốt có hai con sói đảo Vancouver tại Vườn thú Vancouver[4] Nhà làm phim người Anh là ông Bertie Gregory tình cờ trông thấy sói đảo và nhanh chóng thực hiện loạt phim "cuộc sống hoang dã với Bertie Gregory". Chúng là phân loài sói hiếm biết bơi, ăn hải sản.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2005, nó được coi là một phân loài có giá trị bởi MSW3. Nó được phân loại như là một từ đồng nghĩa của C. l. occidentalis. Nghiên cứu sử dụng DNA ty thể đã chỉ ra rằng những con sói của vùng ven biển phía đông nam Alaska là khác biệt về mặt di truyền từ chó sói xám nội địa, phản ánh một mô hình cũng quan sát thấy ở loài khác.

Điều đó cho thấy một mối quan hệ phát sinh loài với sói tuyệt chủng tại phía nam (Oklahoma), chỉ ra rằng những con sói là phần còn lại cuối cùng của một nhóm phổ biến mà phần lớn đã bị tuyệt chủng trong thế kỷ cuối cùng, và những con sói ở miền bắc Bắc Mỹ đã ban mở rộng từ nơi cư trú miền nam dưới sự đóng băng Wisconsin sau khi băng đã tan chảy vào cuối Glacial cuối.

Những phát hiện này gọi vào câu hỏi phân loại phân loại của C.l. nulibus đề xuất bởi Nowak. Một nghiên cứu khác cho thấy những con sói của bờ biển British Columbia là có sự di truyền và sinh thái khác biệt với những con sói nội địa, bao gồm cả những con sói khác từ nội địa British Columbia.

Một nghiên cứu của ba con sói ven biển chỉ ra một mối quan hệ phát sinh loài gần gũi giữa các khu vực được địa lý và sinh thái tiếp giáp lãnh hải, và nghiên cứu đề xuất rằng Canis lupus ligoni (sói Quần đảo Alexander), Canis lupus columbianus (sói British Columbia), và Canis lupus crassodon (sói đảo Vancouver) nên được công nhận là một phân loài duy nhất của Canis lupus tức sói xám.

Trong năm 2016, hai nghiên cứu so sánh trình tự ADN của 42.000 nucleotide polymorphisms ở loài sói xám Bắc Mỹ và tìm thấy những con sói ven biển là có bộ gen và kiểu hình riêng biệt từ những con sói khác. Chúng chia sẻ các môi trường sống giống và các loài săn mồi, và tạo thành một trong 6 các kiểu sinh thái xác định của nghiên cứu, dân số di truyền và sinh thái riêng biệt tách khỏi quần thể khác đối với từng loại khác nhau của họ về môi trường sống các thích ứng địa phương của một kiểu sinh thái loài sói rất có thể phản ánh sở thích của người sói vẫn còn trong các loại môi trường sống nó đã được sinh ra.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Sói đảo sinh sống ở Vancouver, Canada là một trong những loài sói hiếm gặp trên thế giới, bơi lội tốt và ăn hải sản là chủ yếu, chúng có cuộc sống, lối sinh hoạt khác thường của loài sói này. Người ta nói chúng di chuyển giống như những bóng ma xám dọc bờ biển Vancouver, Canada vì rất hiếm khi con người bắt gặp chúng. Sói đảo là một kẻ săn mồi có một không hai. Chúng thường săn bắt trong trong điều kiện tự nhiên hoang dã. Có hai loại sói đảo là sói đảo lục địa và sói đảo ven biển.

Những con sói săn cá và con nai nhỏ trong mùa ẩm ướt, môi trường ven biển có xu hướng nhỏ hơn so với những con sói khác. Sói đảo Vancouver sói là kích thước trung bình, đo chiều cao khoảng 26 đến 32 inch, 4–5 feet từ mũi đến cuối đuôi, và nặng khoảng 60 kg. Nó có bề ngoài thường là một hỗn hợp của màu xám, nâu và đen. Thỉnh thoảng, chúng được nhìn thấy màu trắng tinh khiết.

Sói đảo ven biển sinh sống chủ yếu ở phía Nam Alaska. Tuy nhiên số lượng cá thể loài này ngày một giảm. Không giống sói đảo lục địa, sói đảo ven biển sinh sống hoàn toàn ở vùng biển. Điều này được chứng minh dựa trên việc phân tích gene ADN. sói đảo ven biển là động vật di động cao. Phạm vi sinh sống trong khoảng vài trăm cây số và có khả năng bơi lội, vượt cột sóng nhỏ. Sói đảo ven biển có khả năng bơi lội tuyệt vời. Khi săn mồi, loài sói này có thể bơi xa đến vài km, len lỏi qua các mỏm đá uyển chuyển. Kỷ lục xa nhất của chúng lên tới 12 km.

Tập tính ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Thức ăn của cả hai loài sói đảo và sói ven biển đều là hải sản. Sói đảo lục địa ăn hải sản ít hơn và có ít đặc điểm chung của sói đảo hơn so với sói đảo ven biển. Kích thước của loài sói đảo ven biển khá nhỏ. Điều này được các nhà khoa học lý giải là do chế độ ăn. Đến 90% thức ăn của chúng là hải sản. Cá hồi là món ăn yêu thích, ngoài ra chúng ăn trai, hàu, trứng cá trích, hải cẩu, rái cá. Chó sói ở miền Tây Canada thích câu cá hồi hơn là săn bắt hươu hay các động vật khác. Khi theo dõi thói quen ăn uống kết hợp với nghiên cứu bộ lông và phân của 8 bầy sói ở tỉnh British Columbia.

Hươu là thức ăn chính của loài sói vào mùa xuân và hè. nguồn thức ăn chính của sói là hươu đuôi đen Columbianai Roosevelt. Tuy nhiên, đến mùa thu, thời điểm cá hồi ở Thái Bình Dương đổ về các con sông trong vùng sinh sản thì họ nhà sói thích đánh bắt cá hơn, việc lựa chọn con mồi hiền như cá hồi có thể là vì lý do an toàn. Sói thường bị thương nặng, có thể dẫn đến bỏ mạng trong khi săn hươu. Trái lại, việc bắt cá hồi mang lại cho sói nhiều lợi ích như an toàn, dễ bắt, ít tốn thời gian như khi theo dõi hươu trong rừng. Ngoài ra, so với thịt hươu, thịt cá hồi giàu chất dinh dưỡng hơn, đặc biệt là chất béonăng lượng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Weckworth, Byron V.; Talbot, Sandra; Sage, George K.; Person, David K.; Cook, Joseph (2005). "A Signal for Independent Coastal and Continental histories among North American wolves". Molecular Ecology. 14 (4): 917. doi:10.1111/j.1365-294X.2005.02461.x. PMID 15773925.
  • Weckworth, Byron V.; Talbot, Sandra L.; Cook, Joseph A. (2010). "Phylogeography of wolves (Canis lupus) in the Pacific Northwest". Journal of Mammalogy. 91 (2): 363. doi:10.1644/09-MAMM-A-036.1.
  • Weckworth, Byron V.; Dawson, Natalie G.; Talbot, Sandra L.; Flamme, Melanie J.; Cook, Joseph A. (2011). "Going Coastal: Shared Evolutionary History between Coastal British Columbia and Southeast Alaska Wolves (Canis lupus)". PLoS ONE. 6 (5): e19582.
  • Muñoz-Fuentes, Violeta; Darimont, Chris T.; Wayne, Robert K.; Paquet, Paul C.; Leonard, Jennifer A. (2009). "Ecological factors drive differentiation in wolves from British Columbia". Journal of Biogeography. 36 (8): 1516. doi:10.1111/j.1365-2699.2008.02067.x.
  • Schweizer, Rena M.; Vonholdt, Bridgett M.; Harrigan, Ryan; Knowles, James C.; Musiani, Marco; Coltman, David; Novembre, John; Wayne, Robert K. (2016). "Genetic subdivision and candidate genes under selection in North American grey wolves". Molecular Ecology. 25 (1): 380–402. doi:10.1111/mec.13364. PMID 26333947
  • Schweizer, Rena M.; Robinson, Jacqueline; Harrigan, Ryan; Silva, Pedro; Galverni, Marco; Musiani, Marco; Green, Richard E.; Novembre, John; Wayne, Robert K. (2016). "Targeted capture and resequencing of 1040 genes reveal environmentally driven functional variation in grey wolves". Molecular Ecology. 25 (1): 357–79. doi:10.1111/mec.13467. PMID 26562361.