Giao hưởng số 41 (Mozart)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Symphony No. 41 (Mozart))
Bước tới: menu, tìm kiếm

Wolfgang Amadeus Mozart hoàn thành bản giao hưởng số 41 cung Đô trưởng, K. 551, vào ngày 10 tháng Tám năm 1788.[1] Nó là bản giao hưởng dài nhất và bản cuối cùng trong thể loại này mà ông đã từng sáng tác.

Tác phẩm có biệt danh là bản giao hưởng "Sao Mộc". Tên này bắt nguồn không phải từ Mozart mà có khả năng từ "ông bầu" âm nhạc Johann Peter Salomon[2].

Nhạc cụ tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Bản giao hưởng bao gồm sáo sắt Flute, hai kèn Ô-boa, hai kèn Pha-gốt, hai kèn Cor , hai kèn Trumpet cung Đô trưởng, trống cung Đô-Sol, và nhạc cụ dây kéo .

Tác phẩm và ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Bản giao hưởng số 41 là tác phẩm cuối cùng trong bộ ba giao hưởng nổi tiếng 39-40-41 được Mozart sáng tác nhanh chóng trong suốt mùa hè năm 1788. Bản số 39 được hoàn thành vào ngày 26 tháng 6 và số 40 ngày 25 tháng 7. Nikolaus Harnoncourt lập luận rằng Mozart sáng tác  cả ba bản giao hưởng như một công việc thống nhất, giữa những công việc khác, thực tế là bản giao hưởng số 41, như là công việc cuối cùng, không được giới thiệu (không giống như số 39) nhưng có một cái kết rất hùng tráng.[3]

Trong cùng thời gian đó, trong khi sáng tác bộ ba bản giao hưởng, Mozart sáng tác bản piano tam tấu cung Mi trưởng (K. 542), và Đô trưởng (K. 548), độc tấu piano số 16 cung Đô trưởng (K. 545) – cái gọi là bản sonata "trôi chảy" ( sáng tác một cách nhanh chóng ) – và một bản độc tấu violin K. 547.

Không biết liệu bản giao hưởng số 41 đã từng được trình diễn lần nào trong cuộc đời của nhà soạn nhạc hay chưa. Theo Otto Erich Deutsch, khoảng thời gian này Mozart đã chuẩn bị để ra mắt một loạt "các buổi hòa nhạc trong các sòng bạc" trong một sòng bạc mới ở Spiegelgasse thuộc sở hữu của Philip Otto. Mozart thậm chí còn gửi một cặp vé đến bạn của mình Michael Puchberg. Nhưng có vẻ như không thể để xác định xem buổi biểu diễn đã được tổ chức hay chưa, hay là hủy bỏ do sự thiếu quan tâm.

Các phần[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn phần được sáng tác theo mô hinh giao hưởng cổ điển đặc trưng:

  1. Allegro nhanh và tươi sáng, 44
  2. Andante có cảm xúc, 34 cung Fa trưởng
  3. Menuetto: Allegretto— Trio, 34 , 
  4. Molto allegro khá nhanh 22

Bản giao hưởng đặc biệt dài khoảng 33 phút, lâu hơn bình thường.

 Chủ đề chính của các nhạc cụ bắt đầu với mô tuýp tương phản: một bộ ba tutti ( các nhạc cụ cùng chơi ) trên nền nhạc cơ bản (tương ứng, một tăng dần, chuyển hàng đầu trong một bộ ba từ những giai điệu cơ bản chi phối ), theo sau bởi 1 âm thanh phản ứng trữ tình.

Giai điệu này cất lên hai lần và sau đó, tiếp theo là một chuỗi giai điệu dài sôi động. Những gì tiếp theo là một đoạn chuyển tiếp mà hai họa tiết tương phản đang mở rộng và phát triển. Từ đó, chủ đề thứ hai, bắt đầu với một phần trữ tình trong cung Sol trưởng mà kết thúc trên một hợp âm thứ bảy và tiếp theo là một giai điệu bão táp trong cung Đô thứ. Sau một đoạn nghỉ, đoạn cuối bắt đầu mà một đoạn aria của Mozart "Un bacio di mano" được thể hiện và sau đó kết thúc trên một loạt các giai điệu sôi động.[4] Sự khai triển bắt đầu với một đoạn ngân nga từ Sol trưởng tới Mi giáng trưởng chính là nơi aria được thể hiện, sau đó lặp đi lặp lại và phát triển rộng ra. Một bản tóm tắt không tương xứng sau đó xảy ra với chủ đề được đưa trở về, nhưng nhẹ nhàng và trong cung Fa trưởng.

Nguồn gốc của biệt danh[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Franz Mozart, con trai út của Mozart thì cái tên " Sao Mộc" bắt nguồn từ Johann Peter Salomon, định cư tại London năm 1781.

Kết thúc của tác phẩm có một quy mô hùng vĩ và mạnh mẽ, giai điệu của nó được làm lại từ phần đầu của bản giao hưởng Rê trưởng của Carl Ditters, Der sturz Phaëton năm 1785 ( mùa thu của Phaëton). Trong những ngày đó, hội Philhamornic mà Salomon là thành viên sáng lập, nhận thấy hành tinh mà người Hi Lạp gọi là " Phaëton" nghĩa là "Sao Mộc". Như vậy, nguồn gốc cái tên hùng vĩ này là một sự hài hước.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Deutsch 1965, 320
  2. ^ Heartz, Daniel (2009). Mozart, Haydn and Early Beethoven 1781–1802. Norton. tr. 210,458,474. ISBN 978-0-393-06634-0. 
  3. ^ Clements, Andrew (23 tháng 7 năm 2014). “Mozart: The Last Symphonies review – a thrilling journey through a tantalising new theory”. The Guardian. 
  4. ^ Brown, A. Peter, The Symphonic Repertoire (Volume 2).