Thất diệp nhất chi hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm


Tên Latin: Paris polyphylla
Họ: Vương tôn Trilliaceae
Bộ: Củ nâu Dioscoreales 

Đặc điểm nhận dạng:

Cỏ nhiều năm, cao 30 - 60 (120) cm, thân rễ phình to, đường kính 1,5 cm; thân trên mặt đất đơn độc. Lá 6 - 9 chiếc xếp thành 1 vòng trên thân; phiến lá hình mũi giáo, thuôn, cỡ 7 - 15(22) x 1,5 – 3 cm, 3 gân chính. Hoa mọc đơn độc ở đỉnh thân, đều, lưỡng tính. Đài 4(5) - 6(7), dạng lá, màu xanh, hình mũi giáo. Cánh hoa 4(5) - 6(7), dạng dải, màu vàng, ngắn hơn đài. Nhị (6) 10 - 12 (16), chỉ nhị dẹp, bao phấn thuôn, trung đới kéo dài thành hình kim, dài 1 mm. Bầu thưọng, 3 ô, mỗi ô 2 - 3 noãn. Quả mọng, màu đỏ tươi, hình trứng dài 0,8 – 1 cm, một số nứt ra trước khi quả chín, hạt 2 hoặc ít hơn.  399).

Sinh học và sinh thái:

Mùa ra hoa tháng 4 - 7, mùa quả tháng 8 - 11. Mọc nơi ẩm,nhiều mùn, râm mát, trong rừng mưa mùa, rừng lá rộng thường xanh, rừng tre nứa, khe đá, hốc cây, ven suối.

Phân bố:

Trong nước: Sơn La (Mộc Châu).

Thế giới: Ấn Độ, Nêpan, Mianma, Trung Quốc, Thái Lan.

Giá trị:

Thân rễ dùng làm thuốc có vị ngọt, tính mát, có tác dụng khử đờm chỉ khái, thư can, chỉ thống dùng làm thuốc bổ, chữa ho, di tinh, đau ngực, ngã bị thương.

Tình trạng:

Số lượng cá thể bị suy giảm do khai thác và phá rừng làm mất môi trường sống.

Phân hạng: EN A1c,d.

Biện pháp bảo vệ:

Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "hiếm" (Bậc R). Đề nghị có biện pháp khai thác hợp lí nguồn thuốc, đồng thời đưa vào trồng để bảo vệ nguồn gen.  

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 489.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 489.