Thủy điện Sông Kôn 2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thủy điện Sông Kôn 2 trên bản đồ Việt Nam
Thủy điện Sông Kôn 2
Thủy điện Sông Kôn 2
Thủy điện Sông Kôn 2 (Việt Nam)

Tọa độ: 15°56′15″B 107°48′18″Đ / 15,9375°B 107,805°Đ / 15.93750; 107.80500 Thủy điện Sông Kôn 2 là công trình thủy điện xây dựng trên dòng sông Kôn tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam [1].

Thủy điện Sông Kôn 2 có công suất 60 MW.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Thủy điện Sông Kôn 2 thuộc dạng có hai hồ chứa nước, hay hai bậc đập, hoạt động liên hoàn.

Hồ trữ nước đặt trên dòng sông Kôn có đập ngăn dòng tại thôn Bút Tưa ở phần bắc xã Sông Kôn 15°59′18″B 107°47′21″Đ / 15,98833°B 107,78917°Đ / 15.98833; 107.78917 (Bút Tưa).

Cách đập hồ trữ nước cỡ 15 km phía hạ lưu sông, là đập ngăn dòng sông Kôn, tạo ra hồ nước thứ hai, hay hồ chính, tại thôn Kiên ở phần nam xã Jơ Ngây, nơi bắt đầu đường hầm dẫn nước hoạt động.

Đường hầm dẫn nước cỡ 6 km từ đó đến nhà máy đặt bên bờ phải sông, tại thôn A Chôm xã Ka Dăng 15°53′42″B 107°49′8″Đ / 15,895°B 107,81889°Đ / 15.89500; 107.81889 (Thủy điện Ka Dăng).

Giải pháp hai bậc hồ được xem là thích hợp để tránh làm ngập lụt cho vùng thung lũng trù phú dọc quốc lộ 14G (trước đây gọi là tỉnh lộ 604) ở các xã Sông Kôn, Jơ Ngây, A Ting thuộc huyện Đông Giang.

Những sự cố[sửa | sửa mã nguồn]

Việc dâng mực nước ở hồ có đường hầm dẫn nước sẽ làm nâng công suất phát điện. Sự hấp dẫn này đưa đến việc đơn vị quản là Công ty CP Thủy điện Geruco Sông Kôn liên tục tìm cách nâng mực nước bằng các xảo thuật ở đập tràn. Khi đập tràn cao thêm 1 m bằng cách lắp đặt lên thân đập hệ thống van lật bằng sắt tấm, thì lượng nước trong lòng hồ tăng gần 1 triệu mét khối. Nó đem lại cho nhà máy khoảng 10 tỉ đồng/năm, nhưng lại khiến cho hơn 108.000 m2 đất sản xuất của người dân các xã trong lưu vực bị ngập nặng. Đồng thời còn tiềm ẩn nguy cơ tác động xấu đến môi trường, ảnh hưởng an toàn đập, quy trình vận hành hồ chứa. Nó buộc chính quyền phải can thiệp [2].

Tái định cư và bồi thường trong thủy điện vốn có truyền thống chậm trễ, để lại hệ lụy lâu dài cho người dân địa phương [3].

Chỉ dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kiểm tra thủy điện Sông Kôn 2 nâng đập tràn cao thêm 1m. Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, 2013. Truy cập 17/07/2016.
  2. ^ Kiểm tra thủy điện Sông Kôn 2 nâng đập tràn cao thêm 1m thiennhien.net, 23/02/2013. Truy cập 17/07/2016.
  3. ^ Trăn trở trên vùng đất thủy điện. Quảng Nam Online, 28/12/2009. Truy cập 17/07/2016.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]