Thuế sinh thái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Thuế sinh thái là một loại thuế đánh vào các hoạt động được coi là có hại cho môi trường và nhằm thúc đẩy các hoạt động thân thiện với môi trường thông qua các biện pháp khuyến khích kinh tế. Một chính sách như vậy có thể bổ sung hoặc ngăn cản sự cần thiết của các cách phương thức quản lý (lệnh và kiểm soát). Thông thường, một đề xuất chính sách về thuế sinh thái có thể cố gắng duy trì tổng thu thuế bằng cách giảm tỷ lệ các loại thuế khác (ví dụ: thuế đánh vào lao động của con người và các tài nguyên tái tạo); các đề xuất như vậy được biết đến như là sự thay đổi sang thuế xanh hướng đến việc đánh thuế sinh thái. Các thuế sinh thái nhằm giải quyết sự thất bại của thị trường tự do khi chỉ quan tâm tới lợi nhuận mà không quan tâm tới các hiểm họa môi trường.[1]

Thuế sinh thái học là ví dụ về thuế Pigovian, là các loại thuế nhằm làm cho các bên liên quan cảm thấy gánh nặng xã hội của hành động của mình. Ví dụ cho thuế này là đề nghị của triết gia Thomas Pogge với tên gọi Global Resources Dividend.[2][3]

Các thuế bị ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ví dụ về các khoản thuế có thể được giảm hoặc loại bỏ bằng một thay đổi sang thuế xanh là:

  • Thuế lương, thuế thu nhập, và ở mức độ thấp hơn, thuế doanh thu.
  • Thuế doanh nghiệp (thuế đầu tư và thuế doanh nghiệp).
  • Thuế tài sản về các tòa nhà và các cơ sở hạ tầng khác.

Ví dụ về các thuế sinh thái có thể được thực hiện hoặc tăng lên là:

Các khuôn khổ kinh tế và chiến lược sử dụng chuyển đổi thuế[sửa | sửa mã nguồn]

Đối tượng của một thay đổi chuyển xanh về thuế thường xuyên là để thực hiện "kế toán chi phí đầy đủ" hoặc "kế toán chi phí thực", sử dụng chính sách tài khóa để nội hoá các tác động ngoại vi bóp méo thị trường dẫn đến việc tạo ra sự giàu có bền vững. Các biện pháp rộng hơn đòi hỏi cho điều này đôi khi được gọi là cải cách tài chính sinh thái, đặc biệt tại Canada,[4] nơi chính phủ thường sử dụng thuật ngữ này. Ở một số nước, tên gọi là nền kinh tế thị trường sinh thái-xã hội.

Thay đổi thuế thường bao gồm việc cân bằng mức thuế về mức trung lập về thu nhập cho chính phủ và duy trì tiến bộ chung. Nó thường bao gồm các biện pháp để bảo vệ người dễ bị tổn thương nhất, chẳng hạn như tăng thu nhập tối thiểu để nộp thuế thu nhập, hoặc tăng mức lương hưu và trợ cấp xã hội để bù đắp các chi phí nhiên liệu tăng lên.

Lý thuyết kinh tế cơ bản thừa nhận sự tồn tại của các ảnh hưởng ngoại lai và những tác động tiêu cực tiềm ẩn của chúng. Trong phạm vi mà thuế xanh chính xác cho các yếu tố bên ngoài như ô nhiễm, chúng tương ứng với lý thuyết kinh tế chủ đạo. Tuy nhiên, trong thực tế, việc xác định mức thuế thích hợp hoặc hệ thống thu thuế cần thiết để làm như vậy là rất khó khăn và có thể dẫn đến những sai lệch thêm hoặc những hậu quả không mong muốn.

Thuế tiêu thụ có thể thực hiện cách tiếp cận "feebate" do Amory Lovins khởi xướng, trong đó các khoản phí bổ sung cho các sản phẩm kém bền vững hơn, chẳng hạn như xe thể thao đa dụng—được gộp lại để hỗ trợ tài chính cho các giải pháp thay thế bền vững hơn, chẳng hạn như xe điện lai tạo.

Tuy nhiên, chúng có thể chỉ đơn giản đóng vai trò kích thích tài chính để thay đổi thói quen và đầu tư vốn vào các phương tiện hoặc thiết bị mới hiệu quả hơn hoặc nâng cấp các tòa nhà. Thay đổi nhỏ về thuế suất doanh nghiệp chẳng hạn có thể thay đổi hoàn toàn tỷ suất hoàn vốn các dự án về vốn, đặc biệt là nếu tính đến chi phí tránh sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong tương lai.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Environmental Taxation A Guide for Policy Makers” (PDF). Organisation for Economic Co-operation and Development. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  2. ^ Pogge, Thomas. “Global Resources Dividend”. thomaspogge.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  3. ^ Pogge, Thomas W. (tháng 1 năm 2001). “Eradicating Systemic Poverty: Brief for a global resources dividend” (PDF). Journal of Human Development 2 (1): 59–77. doi:10.1080/14649880120050246. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  4. ^ Beauregard-Tellier, Frédéric (ngày 17 tháng 3 năm 2006). “Ecological fiscal reform (EFR)”. Parliament of Canada. Library of Parliament Canada. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]