Trợ giúp:Chỗ thử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

PHÁP LÝ VÔ VI KHOA HỌC HUYỀN BÍ PHẬT PHÁP ( PHÁP THIỀN VÔ VI)

GIỚI THIỆU

Thiền Vô Vi không phải là một tôn giáo.Thiền Vô Vi là một phương pháp Tu tập giúp cho hành giả giữ gìn sức khỏe và trau dồi tâm linh. Thiền Vô Vi thích hợp với mọi người và mọi tín ngưỡng, trong tự do hoàn toàn, không một ràng buộc nào. Những người muốn tìm hiểu và dấn thân thực hành pháp thiền lúc ban đầu, có thể liên lạc với các trung tâm, các thiền đường Vô Vi khắp nơi trên thế giới sẽ được tận tình hướng dẫn và miễn phí,có thể hạ tải miễn phí các tài liệu, DVD, Mp3 từ các trang Wet phổ biến Pháp Thiền theo PHÁP LÝ VÔ VI KHOA HỌC HUYỀN BÍ PHẬT PHÁP, gọi tắt là : THIỀN VÔ VI. Người Khai sáng Pháp Thiền vô vi là Ông Đỗ Thuần Hậu ( 1883-1967).Người Truyền bá là Ông Lương Sĩ Hằng (1923-2009).

TIỂU SỬ CỤ ĐỖ THUẦN HẬU

Cụ Đỗ Thuần Hậu sinh năm 1883 tại quận Lai Vung, tỉnh Sa Đéc, Việt Nam. Thân phụ là cụ Đỗ Hạo Cừu, Phó Tổng An Thới dưới thời Pháp thuộc. Thân mẫu là cụ Đào Thị Bòi. Lúc lên 9 thì mẹ mất, cụ phải ở với cha và bà kế mẫu cho đến khi lớn.

.Sau khi lập gia đình được vài năm, cụ mới tách ra ở riêng. Cũng vì hoàn cảnh khổ sở thời đó, cụ phải học nhiều nghề để sinh sống và nuôi gia đình. Cụ đã học qua thầy thuốc Nam, thầy bùa, thầy coi quẻ, thợ mã, thợ nhuộm, thợ sơn cùng nấu nướng mọi việc​ để lo sinh sống. Khi sửa soạn lập gia đình cụ phải đi dạy thêm tiếng Việt và tiếng Pháp cho trẻ em trong làng để có tiền lấy vợ. Cụ có được 8 người con: 1 trai và 7 gái. Người con trai trưởng của cụ là ông Đỗ Vạn Lý, từng là Sứ Thần tại Ấn Độ và cựu Đại Sứ tại Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ông cũng từng giữ chức Tham lý Minh Đạo trong cơ quan Phổ Thông Giáo lý Cao Đài Giáo, Việt Nam.

Vì lúc thiếu thời, cụ Đỗ Thuần Hậu gặp nhiều hoàn cảnh éo le, nên tâm trí cụ lúc nào cũng suy xét về cuộc đời và kiếp người. Do đó, cụ quyết tâm tầm đạo. Sau khi tu theo Cao Minh Thiền Sư một thời gian, cụ vẫn chưa hoàn toàn hài lòng vì vẫn chưa được giải đáp hết thắc mắc. Cụ trở về gia đình và tự nghiên cứu thêm Pháp lý Vô Vi. Trong thời gian này, nhiều lúc cụ định thần và thường thấy hình Đức Phật hiện ra trên vách. Cụ lấy làm lạ nên càng cố tâm tu luyện. Lúc khởi đầu tu thì cụ đã 55 tuổi, tâm không sợ chết, sợ nghèo đói, cụ quyết chí tu để xuyên phá bức màn Vô Vi bí mật hầu tiếp xúc với Phật Tiên mà học Đạo. Nhờ lòng chí thành mộ Đạo, cụ Đỗ Thuần Hậu đã ngộ được Pháp lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp. Cụ đã xuất hồn về cõi Vô Vi và đã được học đạo trực tiếp với Đức Phật như lời cụ đã tự thuật trong quyển "Phép Xuất Hồn".

Cụ Đỗ Thuần Hậu (thường được gọi là ông Tư) đã truyền dạy lại cho ông Lương Sĩ Hằng (thường được gọi là ông Tám) để tiếp nối công việc truyền bá đạo pháp. Cụ mất ngày 12-11-1967 (nhằm ngày 11 tháng 10 năm Đinh Mùi) thọ 84 tuổi (85 tuổi ta). Các tác phẩm của cụ để lại là Đời Đạo Song Tu, Phép Xuất Hồn, Quái Mộng Kỳ Duyên, Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư), Kinh A DI ĐÀ.

TIỂU SỬ THIỀN SƯ LƯƠNG SĨ HẰNG

Thiền sư Lương Sĩ Hằng sinh ngày 20 tháng 12 năm 1923 (tức ngày 13 tháng 11 năm Quý Hợi) tại Quy Nhơn, thuộc tỉnh Bình Định, Việt Nam. Thiền sư là người Việt gốc Hoa, đã từng giữ chức vụ phụ tá giám đốc dặc trách thị trường cho công ty hóa học Getz Brothers & Co. (Hoa Kỳ) trước năm 1975. Thiền sư còn nghiên cứu thêm khoa châm cứu và chữa được nhiều người.

Khi còn trẻ, Thiền sư bị đau tim và đau thận nên hay có ý chán đời. Sau có cơ duyên gặp được cụ Đỗ Thuần Hậu, thiền sư Lương Sĩ Hằng xin thụ giáo tu hành theo Pháp lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp. Nhờ cương quyết tu hành nên trong ba tháng đầu công phu thiền sư đã thấy nhiều ấn chứng phi thường về sức khỏe và tinh thần.

Thiền sư đã bị cầm tù trong 13 tháng tại Việt Nam vì bị tình nghi làm do thám cho chánh phủ Hoa Kỳ trong thời gian trước 1975. Trong thời gian bị cầm tù, thiền sư đã châm cứu chữa bệnh và dạy cho những người trong tù phương pháp tu thiền để đạt được sự thanh tịnh và sự thiện lành. Với sứ mạng hoằng pháp, thiền sư đã rời Việt Nam năm 1978 đến trại tỵ nạn Fabella, Phi Luật Tân. Ông đã mang công sức chữa bệnh cho đồng bào tại trại tỵ nạn và các viên chức người Phi. Nếu có ai phát tâm thì thiền sư lại đem giúp cho các trại tỵ nạn Bataan, Palawan và Fabella. Thiền sư còn dành nhiều thì giờ giảng pháp thiền cho đồng bào trong các trại tỵ nạn.

Năm 1979, thiền sư định cư tại Montréal, Canada và hàng năm theo lời mời của các bạn đạo thiền sư đã đi thuyết giảng tại khắp các quốc gia trên các lục địa Âu, Á, Phi, Úc, và Mỹ. Tuy tuổi đã cao, nhưng thiền sư cũng không quản ngại nhọc nhằn tiếp tục truyền pháp đến khắp nơi mà đồng bào Việt Nam cần đến hầu giúp họ tìm lấy con đường giải thoát cho chính họ. Các bài giảng của thiền sư đã được thu vào cassette, CD, video, DVD và cũng đã được Hội Ái Hữu Vô Vi in ra thành sách.

Tháng 4/ 2009, đột nhiên Thiền sư về Việt Nam thăm người thân, trở lại Ca Na Đa và viên tịch 9/2009.