Tuyên Thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Tần Tuyên Thái hậu
秦宣太后
Thái hậu Trung Quốc
Vương Thái hậu nước Tần
Tại vị 306 TCN - 265 TCN
Tiền nhiệm Tần Huệ Văn hậu
Kế nhiệm Đường Thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Tần Huệ Văn vương
Nghĩa Cừ quân (tình nhân,chồng sau),Hoàng Yết (thanh mai trúc mã)
Hậu duệ Tần Chiêu Tương vương
Cao Lăng quân
Kinh Dương quân
Hai người con với Nghĩa Cừ quân
Tên đầy đủ Mị Bát Tử 芈八子
Thụy hiệu Tuyên Thái hậu 宣太后
Sinh ?
Nước Sở
Mất 265 TCN
Hàm Dương, Nước Tần

Tuyên Thái hậu (chữ Hán: 宣太后, ? - 265 TCN), là Thái hậu[1] nước Tần thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Bà là phi tần của Tần Huệ Văn vương Doanh Tứ, và là mẫu thân của Tần Chiêu Tương vương Doanh Tắc.

Tương truyền rằng, Tuyên thái hậu mưu lược hơn người, tại nước Tần nắm hết quyền lực triều chính, hô phong hoán vũ gần 40 năm. Trong lịch sử Trung Quốc, tước hiệu Thái hậu bắt đầu xuất hiện từ bà, Thái hậu chuyên quyền cũng bắt đầu từ thời kỳ bà nắm quyền.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thật, song thân và thời gian sinh cũng như thời niên thiếu của bà không được ghi chép lại, chỉ biết bà họ Mị, người nước Sở. Bà làm phi tần của Tần Huệ Văn vương, có hiệu là "Bát Tử", nên còn được gọi là Mị Bát Tử (芈八子).[2][3][4]

Năm 325 TCN, Mị Bát Tử sinh hạ công tử Tắc (tức Tần Chiêu Tương vương.[5].

Năm 311 TCN, Tần Huệ Văn vương qua đời, Công tử Đãng kế thừa ngôi vị, tức là Tần Vũ vương. Tuy nhiên, Tần Vũ vương chỉ ở ngôi được 4 năm thì chết vì tai nạn Cửu Đỉnh . Tần Vũ vương có vợ là tông thất nước Ngụy , nhưng không có con trai. Các em trai của Tần Vũ vương tranh đoạt vương vị, thực lực mạnh nhất là công tử Hoa, là người con trai lớn nhất còn sống của Huệ Văn vương.Bấy giờ,Sử Lí Tử (em trai của tiên đế Doanh Tứ Huệ văn vương, cho quân hộ tống con trai bà là công tử Tắc, vốn đang đang làm chức tử ở nước Yên, về Tần; nhờ thế lực của em bà là Đại phu Ngụy Nhiễm,Dung Nhuế,Tư Mã Lệnh và Doanh phu nhân trưởng tỉ của tiên đế , bấy giờ đang thực quyền chưởng ác triều chính, mà công tử Tắc lên ngôi, tức Tần Chiêu Tương vương.[6] Bà nhờ thân phận sinh mẫu, được tôn làm Thái hậu, bà cũng là người đầu tiên sử dụng hiệu Thái Hậu trong lịch sử trung quốc. [7]

Tần quốc Thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 305 TCN, công tử Tráng liên hợp đại thần và các công tử khác nổi loạn. Bà và Ngụy Nhiễm bình định nổi loạn, xử tử Huệ Văn hậu, công tử Ung, công tử Tráng.[8][9][10][11] Bà cũng cho đuổi Tần Vũ Vương hậu về lại nước Ngụy, lần lượt diệt trừ các công tử bất hòa với Chiêu Tương vương. Vì Tần Chiêu Tương vương còn nhỏ tuổi, bà đứng ra phụ trách triều chính, với sự phụ chính của Ngụy Nhiễm..

Năm 307 TCN, Sở Hoài vương đánh nước Hàn, vây đất Ung[12]. Chiến sự kéo dài suốt năm tháng, Hàn Tương vương sai Công Tôn Muội đến nước Tần cầu viện[13]. Lúc đầu Tuyên Thái hậu cử quân giúp nhưng chưa tiến quân. Hàn vương lại phải nhờ Thượng Cận tới xin, Tuyên Thái hậu nhớ tới quê hương mình là nước Sở, bèn lựa lời từ tạ không giúp. Vua Hàn lại sai Trương Thúy đến cầu cứu lần nữa. Trương Thúy nhờ Thừa tướng Cam Mậu mới mượn được binh. Quân Sở rút lui[14].

Năm 287 TCN, năm nước Tề, Triệu, Ngụy, HànSở hợp tung chống Tần[15][16], nhưng chỉ tới Thành Cao[17] thì rút lui.

Sau lần hợp tung đó, Tần Chiêu Tương vương thấy chư hầu còn mạnh, muốn cho công tử nước Hàn là Thành Dương quân đang ở Tần làm tướng quốc hai nước Ngụy, Hàn nhưng hai nước không đồng ý. Tuyên Thái hậu lại nhờ Ngụy Nhiễm kiến nghị vua Tần không nên dùng Thành Dương quân vì sẽ làm ảnh hưởng đến quan hệ với Ngụy, Hàn.

Giết Nghĩa Cừ quân[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Nghĩa Cừ là một bộ lạc Nhung Địch ở phía bắc nước Tần, thường xuyên xảy ra chiến tranh với Tần. Dưới thời Tần Huệ Văn vương, sau khi bị quân Tần đánh bại, Nghĩa Cừ vương đành phải thần phục nước Tần. Nghĩa Cừ Vương vốn từ lâu đã nghe danh nhan sắc của Tuyên Thái Hậu khi bà còn là Mị Nguyệt-tì nữ bồi giá cho Huệ văn hậu Mị Xụ đã dũng cảm giả làm vương hậu dụ quân Nghĩa Cừ đổi hướng khi đang cướp giá đòi bắt vương hậu và đem lòng yêu. Từ đó luôn giúp đỡ, hi sinh tính mạng nhiều lần để cứu trợ bà kịp lúc khi bị hại và giúp Doanh Tắc lên ngôi hoàng đế, sau đó bà siêu lòng, đem Nghĩa Cừ Quân ( Địch Ly) sống cùng nhiều năm, rồi thành thân, sinh được con trai lấy họ Doanh, tên Phất.

Năm 272 TCN, tình cảm của Tuyên Thái Hậu và Nghĩa Cừ Vương rạn nứt do Tần Chiêu Tương vương không nhận cha kế và công lao, đem lòng ganh ghét, hai người xảy ra mâu thuẫn.Thêm đó người Nghĩa Cừ thô lỗ không tuân theo phép tắc của Tần quốc, tướng quân Nghĩa Cừ Hổ Mổ gây hiểu lầm giết người, bị bắt giam rồi chết, đàm phán thất bại, Nghĩa Cừ Quân đem hận mất tướng, bản tính thảo nguyên quyết đem quân xông vào cửa điện chém giết, ép bà phải giết ông. [18]. Nhân đó, Tần Chiêu Tương vương sai quân đánh và tiêu diệt Nghĩa Cừ lấy đất Nghĩa Cừ lập ra ba quận Lũng Tây, Bắc Địa, Thượng quận.

Bị tước quyền lực[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên nắm quyền chính, Tuyên Thái hậu trọng dụng Ngụy Nhiễm phong làm Thừa tướng, Nhương hầu Mị Nhung được phong làm Hoa Dương quân, còn hai người con khác của bà là Công tử Khôi, Công tử Phất cũng được phong Kinh Dương quânCao Lăng quân[19], gọi là Tứ quý, nắm nhiều quyền lực, lấn át Tần Chiêu Tương vương.

Năm 271 TCN, người nước NgụyPhạm Thư đến Tần, được trọng dụng. Phạm Thư tâu với Tần Chiêu Tương vương rằng Tứ quý và Thái hậu quyền lực lớn, cần đề phòng[20]. Tần Chiêu Tương vương nghe theo, phế quyền lực của Tuyên Thái hậu, bắt lui về cung riêng, đuổi Nhương hầu về phong ấp, đuổi Hoa Dương quân, Cao Lăng quân, Kính Dương quân ra biên cương.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đó, Tuyên Thái hậu lại có người tình là Ngụy Sửu Phu vốn trông giống với thanh mai trúc mã Hoàng Yết người Sở của bà . Năm 265 TCN, khi lâm bệnh nặng, bà muốn cho Sửu Phu tuẫn táng theo mình. Sửu Phu sợ hãi, nhờ Dung Nhuế đến thuyết phục bà bãi lệnh tuẫn táng[21].

Tháng 10 năm đó, Tuyên Thái hậu Mị Bát Tử qua đời. Sử sách ghi nhận bà hoạt động từ khi sinh Tần Chiêu Tương vương năm 324 TCN đến lúc mất năm 265 TCN, tổng cộng là 59 năm, không rõ bao nhiêu tuổi. Thi hài của bà được chôn cất ở Dương Ly Sơn[22].

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nghĩa Cừ quân
  2. Ngụy Sửu Phu
  • Em trai:
  1. Ngụy Nhiễm
  2. Mị Nhung
  • Con cái:
  1. Tần Chiêu Tương vương Doanh Tắc
  2. Cao Lăng quân Doanh Khôi
  3. Kinh Duơng quân Doanh Phất
  4. Hai người con với Nghĩa Cừ quân.

Trong văn học và điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Đông Chu liệt quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật Tuyên Thái hậu xuất hiện trong hồi 97 tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long. Đông Chu liệt quốc không nói đến phần lớn sự nghiệp chính trị của bà, chỉ ghi lại sự việc Phạm Thư đến thuyết phục Tần Chiêu Tương vương bãi bỏ quyền lực của bà. Vua Tần bèn đày bà vào thâm cung, không cho tham gia chính sự.

Trong phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, các thiên
    • Tần bản kỉ
    • Nhương hầu liệt truyện
    • Triệu thế gia
    • Phạm Thư Thái Trạch liệt truyện
  • Hậu Hán thư, quyển 87: Tây Khương truyện
  • Chiến Quốc sách, quyển 4: Tần sách
  • Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 1, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
  • Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, Nhà xuất bản Đà Nẵng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chỉ khi nào nhà vua xưng hoàng đế thì mẫu thân mới có tước hiệu hoàng thái hậu. Đây là thời điểm trước khi Tần Thủy Hoàng, nhà vua đầu tiên xưng hoàng đế trong lịch sử, các vua chỉ xưng Vương là cao nhất, nên các thái hậu đều có tước hiệu Vương thái hậu chứ không phải xưng Hoàng thái hậu.
  2. ^ Sử ký, quyển 72, phần "Nhương hầu liệt truyện", chép: "Mẹ của [Tần] Chiêu [Tương] vương có hiệu là Mị Bát Tử. Khi Chiêu [Tương] vương tức vị, Mị Bát Tử được tôn hiệu là Tuyên thái hậu".
  3. ^ Sử ký, quyển 5, "Tần bản kỷ", chép: "Mẹ Chiêu Tương [vương] là người nước Sơ, là người họ Mị, hiệu là Tuyên thái hậu".
  4. ^ "Sử ký tác ẩn", phần "Nhương hầu liệt truyện", chép: "Tuyên thái hậu là phi tần của [Tần] Huệ vương, họ Mị, gọi là Mị Bát Tử".
  5. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký Tư Mã Thiên, quyển 5, Tần bản kỉ”. Truy cập 22/05/2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  6. ^ Sử ký, Tần bản kỉ
  7. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký Tư Mã Thiên, quyển 43, Triệu thế gia”. Truy cập 22/05/2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  8. ^ Sử ký, quyển 72, phần "Nhương hầu liệt truyện" ghi: "Vũ vương chết, chư đệ tranh lập, riêng Ngụy Nhai [tức Ngụy Nhiễm] đủ khả năng lập [Tần] Chiêu vương. Chiêu vương tức vị, lập Nhai làm Tướng quân, bảo vệ Hàm Dương, dẹp loạn Quý quân [tức công tử Tráng]".
  9. ^ Sách "Sử ký tác ẩn", phần "Nhương hầu liệt truyện" chép: "Quý quân tức công tử Tráng, tiếm lập ngôi vị xưng hiệu là Quý quân. Nhương hầu có thực lực, lập Chiêu vương, được phòng làm Tướng quân, bảo vệ Hàm Dương, giết Quý quân cùng với Huệ Văn [hậu]".
  10. ^ Sách "Cổ bản trúc thư kỷ niên", phần "Ngụy kỷ" chép: "Tần nội loạn, [Ngụy Nhiễm] giết Thái hậu cùng với công tử Ung, công tử Tráng".
  11. ^ Sử ký, Tần bản kỷ đệ ngũ: "Thứ trưởng Tráng cùng đại thần và các công tử nổi loạn, bị giết, làm Huệ Văn hậu cũng không thoát khỏi.".
  12. ^ Nay thuộc đông bắc Vũ Châu, Hà Nam
  13. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký Tư Mã Thiên, quyển 45, Hàn thế gia”. Truy cập 22/05/2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  14. ^ “Chiến Quốc sách, quyển 27”. Truy cập 22/05/2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  15. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 72
  16. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr 65
  17. ^ Nay nằm ở phía Tây Huỳnh Dương, Hà Nam, Trung Quốc
  18. ^ Phạm Diệp. “Hậu Hán thư, quyển 87, Tây Khương truyện”. Truy cập 22/05/2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  19. ^ Sử ký không cho biết Kinh Dương và Cao Lăng quân là con của Tần Huệ Văn vương hay Nghĩa Cừ quân
  20. ^ Tư Mã Thiên. “Sử ký Tư Mã Thiên, quyển 79, Phạm Thư Thái Trạch liệt truyện”. Truy cập 22/05/2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  21. ^ “Chiến Quốc sách, quyển 4”. Truy cập 22/05/2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  22. ^ Nay thuộc Khu Ly Sơn, tỉnh Thiểm Tây