Văn hóa Hồng Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Long ngọc hình chữ C thuộc văn hóa Hồng Sơn

Văn hóa Hồng Sơn (Trung văn giản thể: 红山文化; phồn thể: 紅山文化; bính âm: Hóngshān Wénhuà) là một nền văn hóa thời đại đồ đá mới ở đông bắc Trung Quốc. Các di chỉ thuộc văn hóa Hồng Sơn được phát hiện tại một khu vực trải rộng từ Nội Mông đến Liêu Ninh, có niên đại từ khoảng 4700 TCN đến 2900 TCN.[1]

Văn hóa Hồng Sơn được đặt theo tên của Hồng Sơn Hậu (Trung văn giản thể: 红山後; phồn thể: 紅山後; bính âm: hóngshānhòu), một di chỉ thuộc khu Hồng Sơn của Xích Phong. Di chỉ Hồng Sơn Hậu được nhà khảo cổ học người Nhật Torii Ryūzō phát hiện vào năm 1908 và được khai quật quy mô vào năm 1935 bởi Kōsaku Hamada và Mizuno Seiichi.[2]

Các đồ tùy táng của nền văn hóa Hồng Sơn bao gồm một vài trong số những mẫu chế tác ngọc thạch sớm nhất được biết đến. Văn hóa Hồng Sơn được biết đến với ngọc trư long và ngọc phôi long. Các bức tượng nhỏ làm bằng đất sét, bao gồm tượng các thai phụ, cũng được phát hiện ở khắp các di chỉ của văn hóa Hồng Sơn.

Người ta đã khai quật được các vòng nhỏ làm bằng đồng.[3]

Di chỉ Ngưu Hà Lương có một nghi lễ phức tạp độc nhất, có liên hệ với văn hóa Hồng Sơn. Những người khai quật đã phát hiện ra tổ hợp đền thờ dưới lòng đất, bao gồm bệ thờ, ụ đá hình tháp. Đền thờ được xây dựng trên nền đá, với các bức tường được tô vẽ. Các nhà khảo cổ học đặt cho nó cái tên là Đền thờ nữ thần do họ phát hiện ra một tượng đầu nữ giới làm bằng đất sét với mắt được dát ngọc thạch. Có ý kiến cho rằng việc hiến tế được tiến hành trong văn hóa Hồng Sơn.

Cũng như văn hóa Ngưỡng Thiều, các di chỉ thuộc văn hóa Hồng Sơn cung cấp các bằng chứng cổ xưa nhất về phong thủy. Sự hiện diện của cả hình tròn và vuông tại các trung tâm nghi lễ của văn hóa Hồng Sơn cho thấy sự hiện diện ban đầu của thuyết vũ trụ "trời tròn đất vuông".[4] Phong thủy ban đầu dựa trên thiên văn học để tìm ra mối quan hệ giữa con người và vũ trụ.[5]

Một số nhà khảo cổ học Trung Quốc như Quách Đại Thuận thì nhìn nhận rằng văn hóa Hồng Sơn là một giai đoạn quan trọng của văn minh Trung Hoa thời kỳ đầu.[6] Đối lập với quan điểm này, nhà lịch sử ngôn ngữ học Robert Blench cho rằng không có bằng chứng khu vực này khi đó là vùng nói tiếng Hán, và rằng sẽ đáng tin hơn khi cho là khu vực này khi đó là của các cư dân nói ngôn ngữ tiền Mông Cổ hoặc tiền Triều Tiên.[7] Cho dù mối quan hệ về ngôn ngữ với các cư dân cổ xưa có ra sao, văn hóa Hồng Sơn được cho là đã tạo ảnh hưởng đến sự phát triển của văn minh Trung Hoa thời kỳ đầu.[8] Văn hóa Hồng Sơn cũng có thể đóng góp vào sự phát triển của các khu định cư Triều Tiên cổ đại, theo như Keith Pratt.[9]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1] Timeline posted by National Gallery of Art, Washington, DC.
  2. ^ Hamada, Kosaku and Mizuno Seiichi. "Chifeng Hongshanhou," Archaeologia Orientalis, ser. A, No. 6. Far-Eastern Archaeology Society of Japan, (1938).
  3. ^ Hongshan Culture - The Jade Trade
  4. ^ [2] Sarah M. Nelson, Rachel A. Matson, Rachel M. Roberts, Chris Rock and Robert E. Stencel: Archaeoastronomical Evidence for Wuism at the Hongshan Site of Niuheliang, 2006.
  5. ^ Sun, X. (2000) Crossing the Boundaries between Heaven and Man: Astronomy in Ancient China. In H. Selin (ed.), Astronomy Across Cultures: The History of Non-Western Astronomy. 423-454. Kluwer Academic.
  6. ^ Da-Shun, Guo 1995. Hongshan and related cultures. In: The archaeology of Northeast China: beyond the Great Wall. Nelson, Sarah M. ed. 21-64. London and New York: Routledge.
  7. ^ [3] Roger Blench(2004), Stratification in the peopling of China: how far does the linguistic evidence match genetics and archaeology? p.9
  8. ^ Kwang-chih Chang and Sarah Allan, The Formation of Chinese Civilization: An Archaeological Perspective, p. 65
  9. ^ [4] Keith Pratt(2006), Everlasting Flower, p.30.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]