Đi tìm thời gian đã mất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đi tìm thời gian đã mất
À la recherche du temps perdu
MS A la recherche du temps perdu.jpg
Bản in thử đầu tiên của À la recherche du temps perdu: Du côté de chez Swann với sự sửa chữa bằng tay của Proust.
Thông tin sách
Tác giả Marcel Proust
Quốc gia Pháp
Ngôn ngữ tiếng Pháp
Thể loại Văn học hiện đại
Nhà xuất bản GrassetGallimard
Ngày phát hành 1913–1927
ISBN NA
Bản tiếng Việt
Người dịch Nguyễn Trọng Định
Nhà xuất bản Văn học
Ngày phát hành 1992
Số trang Tập 1: 309
Tập 2: 352

Đi tìm thời gian đã mất (tiếng Pháp: À la recherche du temps perdu) là bộ tiểu thuyết gồm 7 tập của nhà văn Pháp Marcel Proust, được viết từ 1908-1909 đến 1922 và xuất bản từ 1913 đến 1927, trong đó 3 tập cuối chỉ được xuất bản sau khi tác giả qua đời. Tiểu thuyết này được xếp vào trong số 10 cuốn tiểu thuyết được thanh niên Pháp ưa thích nhất trong thế kỷ 20. Tạp chí Time cũng bình chọn Đi tìm thời gian đã mất năm trong số mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại[1]

Quá trình sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Marcel Proust bắt đầu viết Đi tìm thời gian đã mất từ những năm cuối thế kỷ 19 và đã bỏ dở rồi lại viết tiếp mấy lần. Năm 1908, ông bắt đầu viết lại lần thứ ba và năm 1912 hoàn thành quyển 1: Bên phía nhà Swann (Du côté de chez Swann). Ba nhà xuất bản từ chối tác phẩm nhưng cuối cùng Grassaet nhận in vào năm 1913. Quyển 2, Dưới bóng những cô gái tuổi hoa (A l’ombre des filles en fleur), ra đời năm 1919. Trong ba năm cuối cuộc đời, tự giam mình trong một gian phòng cách biệt với xã hội, Proust đã viết ngày viết đêm và hoàn thành bộ sách với quyển 3: Về phía nhà Germantes (Côté de Germantes, 1920 đến 1921); quyển 4: Sodome và Gomorrhe (Sodome et Gomorrhe, 1921 đến 1922); quyển 5: Cô gái bị cầm tù (La Prisonnière, 1923); quyển 6: Albertine biến mất (Albertine disparue, 1925) và quyển 7: Thời gian tìm thấy lại (Le Temps retrouvé, 1927).

Tập Tiếng Pháp Phát hành Tiếng Việt
1 Du côté de chez Swann 1913 Bên phía nhà Swann
2 À l'ombre des jeunes filles en fleurs 1919 Dưới bóng những cô gái tuổi hoa
3 Le Côté de Guermantes 2 tập: 1920 và 1921 Về phía nhà Germantes
4 Sodome et Gomorrhe 2 tập: 1921 và 1922 Sodome và Gomorrhe
5 La Prisonnière 1923 Cô gái bị cầm tù
6 La Fugitive Albertine disparue 1925 Albertine biến mất
7 Le Temps retrouvé 1927 Thời gian tìm thấy lại

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nhân vật chính:

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Đi tìm thời gian đã mất là tiểu thuyết có dấu ấn tự truyện với nhân vật chính là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng "tôi". Nhân vật "tôi" kể chuyện mình từ ngày còn nhỏ, với những ước mơ, dằn vặt, mối tình với Gilberte - con gái của Swann; với Albertine - một trong "những cô gái tuổi hoa", mối tình thơ mộng và đau xót làm cho nhân vật quằn quại. Còn có những thiên đường tuổi ấu thơ; một xã hội thượng lưu giả dối, nhạt nhẽo; Albertine sống bên cạnh Marcel như một "nữ tù nhân", rồi chết một cách thảm thương. Cuối cùng "thời gian lại tìm thấy", có nghĩa là người kể chuyện tìm ra lẽ sống của mình là cống hiến cuộc đời cho nghệ thuật. Tất cả những hoạt động xã hội chỉ là "thời gian đã mất" và người kể chuyện biến cái thời gian đã mất ấy thành một hành động sáng tạo nghệ thuật.

Giá trị tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Cốt truyện của Đi tìm thời gian đã mất chỉ đơn giản như phần nội dung đã nói, song ý nghĩa và giá trị tác phẩm không phải ở đấy mà ở trăm nghìn chi tiết khác, ở kiến trúc thâm u, đồ sộ với muôn ngàn ngóc ngách; ở những phân tích sâu sắc, nên thơ, những cảm xúc dạt dào hay ẩn hiện. Quyển tiểu thuyết lớn này chứa đựng nhiều quyển tiểu thuyết nhỏ; ở đây có tiếng thủ thỉ tâm tình triền miên, như không bao giờ chấm dứt, có nhiều tiếng nói, có tiếng nhạc xa xôi dội về và những bóng người[2]. Đi tìm thời gian đã mất là một giấc mơ vô tận. Trong môi trường gia đình (về phía nhà Swann) và môi trường quý tộc (về phía nhà Germantes), hình bóng những nhân vật hiện lên, dần dần xóa nhòa và biến đi; cuối cùng nổi lên một nhân vật duy nhất, có thể tồn tại với thời gian: Marcel.

Đi tìm thời gian đã mất là công cuộc đi tìm cái tôi, với muôn ngàn bóng dáng, luôn luôn thay hình đổi dạng. Có nhiều nhân cách trong một nhân cách, nhiều hữu thể trong một hữu thể. Đó là ý nghĩa sâu xa của tác phẩm. Cái tôi ấy được khơi dậy từ quá khứ. Một kỷ niệm bỗng nhiên sống lại từ bóng tối của thời gian, ký ức là một sức mạnh sáng tạo như Proust đã viết: "Những thiên đường thật là những thiên đường đã mất". Những tư tưởng này được gợi ý phần nào từ tư tưởng triết học của Henri Bergson về yếu tố thời biến của thời gian, và trùng hợp với yếu tố tiềm thức của Sigmund Freud.

Từng bị giới nghiên cứu Mác xít đánh giá là tác phẩm muốn "di chuyển" vấn đề xung đột giữa cá nhân và xã hội tư sản tàn bạo vào nội tâm con người, xa rời hiện thực, nhưng từ góc độ khác có thể thấy Đi tìm thời gian đã mất mở đầu cho tiểu thuyết mới thế kỷ 20 với những câu văn dài bất tận như dòng suy tư, cấu trúc ngữ pháp đặc biệt để tạo nên những lớp thời gian chồng lên nhau tưởng như không thể gỡ ra được, những thể nghiệm về một độ căng thời gian kể chuyện... Câu chuyện tưởng như chỉ xoay quanh những chủ đề mang tính chất riêng tư của một nhân vật, nhưng giờ đây khi đọc lại với một đồ lùi thời gian đáng kể, người ta còn nhìn thấy sự đan cài vào những lớp thời gian của truyện những câu chuyện thời sự đầu thế kỷ 20 (vụ Dreyfus), những hình ảnh về xã hội thượng lưu phù hoa (thời trang), về những người lao động chân tay trực tiếp (những người nấu bếp)...

Như chính các nhà văn thế kỷ 20 thừa nhận, dù thích hay không thích thì tác phẩm cũng này là một biểu hiện cụ thể buộc các nghệ sĩ hiện đại phải thay đổi cách nhìn của mình về thế giới và tất nhiên cả cách thể hiện thế giới ấy. Đi tìm thời gian đã mất vì thế trở thành một cột mốc trong hành trình thời gian của tiểu thuyết hiện đại thế kỷ 20.

Bản dịch tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong bảy cuốn trong bộ Đi tìm thời gian đã mất, tập 2 Dưới bóng những cô gái tuổi hoa đã được Nguyễn Trọng Định dịch, in lần đầu làm 2 tập (tập 1 309 trang, tập 2 352 trang khổ 19 cm), Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1992. Lần tái bản năm 2006 in thành 1 tập (656 trang khổ 20,5 cm) [3], lần tái bản 2008 in 1 tập (516 trang khổ 24 cm) [4].

Phim chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The 10 Greatest Books of All Time trên tạp chí Time
  2. ^ Từ điển văn học bộ mới, trang 411, Nhà xuất bản Thế giới, H. 2005
  3. ^ Giới thiệu bản in 2006
  4. ^ Giới thiệu bản in 2008
Tham khảo
  • 101 vẻ đẹp văn chương thế giới và Việt Nam, H. 2006.
  • Từ điển văn học bộ mới, Nhà xuất bản Thế giới, H. 2005.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]