Cộng hòa Lan Phương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Đại thống chế Lan Phương
1777–1884
Thủ đô Đông Wanjin
Ngôn ngữ tiếng Triều Châu, tiếng Khách Gia, tiếng Mã Lai
Chính thể nước Cộng hòa
Lịch sử
 - Khởi đầu năm 1777
 - Giải thể 1884
Bài viết này nằm trong chủ đề
Lịch sử Indonesia
History of Indonesia Vi.png
Xem thêm:
Niên biểu lịch sử Indonesia
Thời tiền sử
Những nhà nước đầu tiên
Tarumanagara (358–669)
Sunda (669-1579)
Sailendra (giữa thế kỷ 8 - giữa thế kỷ 9)
Srivijaya (cuối thế kỷ 7 - 13)
Medang (giữa thế kỷ 8 – thế kỷ 10)
Kediri (1049–1221)
Singhasari (1222–1292)
Majapahit (1293–1500)
Các nhà nước Hồi giáo
Sự phát triển của Hồi giáo (1200–1600)
Hồi quốc Malacca (1400–1511)
Hồi quốc Demak (1475–1518)
Hồi quốc Aceh (1496–1903)
Hồi quốc Banten (1526–1813)
Hồi quốc Mataram (thế kỷ 16 - 18)
Thời kỳ thuộc địa
Bồ Đào Nha (1512–1850)
Công ty Đông Ấn Hà Lan (1602–1800)
Đông Ấn Hà Lan (1800–1942)
Indonesia trỗi dậy
National awakening (1899–1942)
Thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng (1942–45)
Tuyên ngôn Độc lập (1945)
Cách mạng dân tộc (1945–1950)
Thời kỳ độc lập
Dân chủ tự do (1950–1957)
"Dân chủ kỷ luật" (1957–1965)
Quá độ tới "Trật tự Mới" (1965–1966)
"Trật tự Mới" (1966–1998)
Thời kỳ "Reformasi" (1998–nay)
Sửa

Cộng hòa Đại thống chế Lan Phương (phồn thể: 蘭芳大統制共和國; Hán Việt: Lan Phương Đại thống chế Cộng hòa quốc) là một chính thể nhà nước của người Hoa ở Tây KalimantanIndonesia, do La Phương Bá, một người Khách Gia nhập cư, thành lập vào năm 1777, tồn tại 108 năm trước khi diệt vong bởi sự xâm lược của Hà Lan vào năm 1884. Đây có thể xem là chính thể cộng hòa hiện đại đầu tiên tại châu Á.

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ sau những chuyến thám hiểm "dương uy" của Trịnh Hòa, nhiều người Hán bắt đầu di cư lập nghiệp ở vùng biển phía Nam ngoài cương thổ Trung Hoa, trong đó có một số lượng đáng kể định cư ở các đảo quốc vùng Đông Nam Á. Số lượng này càng tăng lên vào cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18, khi mà triều đình ngoại tộc Mãn Châu đã chiếm được Trung Hoa và diệt trừ các thế lực phục hưng của người Hán. Bên cạnh những người Hoa kiều di cư vì lý do kinh tế, một số lượng lớn Hoa kiều di cư vì lý do tị nạn chính trị, tránh họa binh lửa và không muốn sống dưới ách thống trị của người Mãn Châu.

Đây cũng là thời kỳ các thực dân châu Âu mở các thị trường mới tại các đảo quốc Đông Nam Á, chủ yếu là sự tranh giành thị trường giữa 2 cường quốc biển là Bồ Đào NhaHà Lan. Với sức mạnh vượt trội của vũ khí, các công ty Đông Ấn của Bồ Đào Nha, Anh giành được quyền thiết lập các thương điếm, hình thành các khu nhượng địa mà ở đó họ hành xử như một vương quốc địa phương, liên minh hoặc cắt đứt quan hệ với các vương quốc lân cận, buôn bán rộng rãi cả với Trung Hoa, Ấn ĐộChâu Âu.

Trước sức mạnh xâm nhập thị trường của các thực dân châu Âu, cộng đồng người Hoa cũng dần hình thành những mô hình công ty mậu dịch tương tự các công ty Đông Ấn, được biết đến qua các ghi chép của người Bồ Đào Nha, với tên gọi là các kongsi (Hán Việt: Công ty). Dù không có được sức mạnh vũ khí, nhưng với trình độ tổ chức, họ dễ dàng được các tiểu vương các đảo quốc cho phép hưởng đặc quyền tự trị như các công ty Đông Ấn châu Âu trong một số lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực khai khoáng.[1]

Đứng đầu các kongsi là các thủ lĩnh mà người Bồ Đào Nha gọi là Kapitein hoặc Majoor, Major, nhưng được biết đến nhiều nhất với tên gọi Kapitan[2][3]. Các kapitan hầu hết là những người có uy tín trong cộng đồng người Hoa tại địa phương, được bầu lên để lãnh đạo cộng đồng dưới hình thức kongsi. Họ thường xuyên thiết lập mối quan hệ tốt với các thủ lĩnh địa phương cũng như liên minh với các kongsi khác để chống lại sự xâm nhập của thực dân châu Âu. Sự khôn khéo cùng với hành xử tôn trọng văn hóa địa phương, họ dần chiếm được cảm tình của các thủ lĩnh địa phương, trong một số trường hợp còn được xem như là người bảo hộ các bộ tộc địa phương trước các thực dân châu Âu, hoặc là người hòa giải xung đột giữa các bộ tộc. Do đó, thế lực các kongsi ngày càng mở rộng, thậm chí trở thành những vương quốc độc lập trên thực tế, dưới quyền lãnh đạo của cộng đồng người Hoa, đứng đầu bởi các kapitan.[4][5]

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số các kongsi, người ta biết đến nhiều nhất là kongsi Lan Phương, nhờ những ghi chép của Yap Siong-yoen, con rể của vị kapitan cuối cùng của kongsi Lan Phương, được dịch sang tiếng Hà Lan vào năm 1885[6]. Được thành lập vào năm 1772 tại Pontianak, mà người Hoa gọi là Khôn Điện (坤甸), Công ty Lan Phương lấy tên ghép từ tên 2 người sáng lập là Trần Lan BáLa Phương Bá.

Lập quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1777, La Phương Bá đổi xưng hiệu thành Cộng hòa Đại thống chế Lan Phương[7], tôn Trần Lan Bá làm Đệ nhất Tổng chế, còn gọi là Danh dự Tổng trưởng, còn mình là Đệ nhị Tổng chế, xưng hiệu là Đại đường Tổng trưởng hoặc Đại đường Khách trưởng, kiến đô tại Đông Wanjin (Vạn Luật). Đương thời bấy giờ, người ta thường gọi là Cộng hòa Phương Bá.[8] và gọi La Phương Bá là Khôn Điện vương.

Cộng hòa Lan Phương hoạt động trên nguyên tắc "Quốc chi đại sự giai chúng nghị nhi hành", nghĩa là khi có việc quan trọng của quốc gia thì mọi quyết định đều phải thông qua hội nghị đại chúng của các công dân. 

Các đời nguyên thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Các đời nguyên thủ Cộng hòa Lan Phương kế nhiệm nhau theo nguyên tắc tuyển cử dân chủ kết hợp truyền thừa thiện nhượng. Theo đó, khi vị nguyên thủ đương nhiệm trước khi từ chức hoặc qua đời, sẽ tiến cử một thuộc hạ kế vị mình để đa số công dân phê chuẩn. Trừ Trần Lan Bá do tuổi cao nên chỉ giữ danh vị, tổng cộng có 12 người từng giữ vị trí nguyên thủ của Cộng hòa Lan Phương, trong đó có 2 người giữ cương vị này 2 lần.

  1. Trần Lan Bá (danh dự)
  2. La Phương Bá, 1777-1795
  3. Giang Mậu Bá, 1795-1799
  4. Khuyết Tứ Bá, 1799-1804
  5. Giang Mậu Bá, 1804-1811 (lần 2)
  6. Tống Sáp Bá, 1811-1823
  7. Lưu Đài Nhị, 1823-1838
  8. Cổ Lục Bá, 1838-1842 
  9. Tạ Quế Phương, 1842-1843
  10. Diệp Đằng Huy, 1843-1845
  11. Lưu Càn Hưng, 1845-1848
  12. Lưu Á Sinh, 1848-1875
  13. Lưu Lượng Quan, 1876-1880 
  14. Lưu Á Sinh, 1880-1884 (lần 2)

Quan hệ ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Suy vong[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 海外華人創建了世上第一個共和國
  2. ^ The Kapitan System and Secret Societies published in Chinese politics in Malaysia: a history of the Malaysian Chinese Association - Page 14
  3. ^ Southeast Asia-China interactions: reprint of articles from the Journal of the Malaysian Branch, Royal Asiatic Society, Issue 25 of M.B.R.A.S. reprint, 2007, - Page 549
  4. ^ Ooi, Keat Gin. Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, From Angkor Wat to East Timor, p. 711
  5. ^ Hwang, In-Won. Personalized Politics: The Malaysian State Under Matahtir, p. 56
  6. ^ Groot, J.J.M. (1885), Het Kongsiwezen van Borneo: eene verhandeling over den grondslag en den aard der chineesche politieke vereenigingen in de koloniën, The Hague: M. Nijhof .
  7. ^ Thuật ngữ "Đại thống chế" lấy ý trong câu "Đại gia nhất khởi thống trị" (大家一起统治), tương tự thuật ngữ "dân chủ" ngày nay, không phải cấp bậc Đại thống chế.
  8. ^ Bách Dương, Trung Quốc nhân sử cương (hạ).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Heidhues, Mary Somers (2001), “Chinese Settlements in Rural Southeast Asia: Unwritten Histories”, trong Anthony Reid, Sojourners and Settlers: Histories of Southeast Asia and the Chinese, Honolulu: University of Hawaii Press .
  • Nam Dương kiều thông sử, La Phương Bá truyện
  • La Hương Lâm, Khảo cứu "Tây Kalimantan: La Phương Bá xây dựng nước cộng hòa" Trung Quốc học xã, Hongkong, 1961.