Chung thân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chung thân là hình phạt không thời hạn, thông thường được hiểu là người bị kết án (phạm nhân) sẽ phải chấp hành án tù (lao động, học tập, cải tạo...) gần như là suốt cả cuộc đời của mình ở trong trại giam. Hình phạt này được quy định trong luật hình sự do toà án tuyên, chủ yếu được áp dụng cho những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, gây ra nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, tuy nhiên lại chưa đến mức phải chịu án tử hình (ở những quốc gia còn có hình phạt này) hay dù đã bị kết án tử hình nhưng người đó lại được nguyên thủ quốc gia ân giảm hoặc được khoan hồng đặc biệt trong nhiều trường hợp khác. Tại một số nước khác thì chung thân là hình phạt cao nhất, nghiêm khắc nhất do tại đó không còn án tử hình. Cũng như các hình phạt khác trong luật hình sự, chung thân được áp dụng cho những người phạm tội và đã bị toà án xét xử chính thức tuyên án, bản án đã có hiệu lực pháp luật thì người đó mới phải chấp hành bản án đó.

Trẻ em và người chưa thành niên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thông lệ quốc tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với trẻ em cũng như đối với người chưa thành niên dù họ có phạm tội nghiêm trọng như thế nào.

Tuy vậy, tại một số ít nước trên thế giới, theo báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền trên thế giới và tổ chức Ân xá quốc tế, trong năm 2005 vẫn còn áp dụng tù chung thân cho trẻ em và người chưa thành niên là Hoa Kỳ, Israel, Cộng hoà Nam Phi, Tanzania. Mỹ đứng đầu với 9.700 trường hợp, 2.200 đã được phóng thích tạm thời vì có bảo lãnh.

Án chung thân trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

:
  Áp dụng tù chung thân
  Chung thân có thể chỉ áp dụng cho nam
  Chung thân đã đựoc bãi bỏ
  Không có thông tin

Châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tại Áo tù chung thân có nghĩa là tù nhân phải bị cầm tù cho tới khi người đó chết. Tuy nhiên, trên thực tế khoảng 15 năm sau khi bị kết án người đó có thể được phóng thích sau khi đã có bảo lãnh và cam kết sẽ không tiếp tục phạm pháp. Cũng tại nước này chung thân sẽ không được áp dụng đối với những người có tuổi đời dưới 21 tính ở thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội. Những người này có thể sẽ phải chịu một mức án tù giam có thời hạn là 20 năm.
  • Tại Bỉ, án tù chung thân sẽ tự động được đổi thành án tù giam với thời hạn là 30 năm. Và sau khi người bị kết án đã chấp hành được khoảng 1 phần 3 thời gian đó có thể được xem xét để phóng thích.
  • Đan Mạch, tối đa là 16 năm tù giam.
  • Na Uy, tù chung thân được giới hạn thời gian mà tù nhân phải chấp hành là 21 năm. Trên thực tế thì khi đã qua 2/3 thời gian đó là họ có thể được ân xá.

Châu Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Án chung thân ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Theo quy định tại Điều 34 Bộ Luật Hình sự Việt Nam thì:

Tù Chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình. Không áp dụng tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội.

Như vậy theo quy định này, người chưa thành niên tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm luật hình sự, dù hành vi đó nguy hiểm như thế nào đi nữa thì khi xét xử cũng sẽ không bị áp dụng hình phạt tù chung thân. Người chưa thành niên theo quy định là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Tại Việt Nam tù chung thân không có nghĩa là phạm nhân sẽ phải chấp hành hình phạt tù giam suốt cả cuộc đời của mình trong trại giam. Mà thông thường, theo chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam, phạm nhân bị kết án chung thân có thể được tha tù, thời gian tha sớm hay muộn là tuỳ thuộc vào việc người đó có nghiêm chỉnh chấp hành án hay không. Nếu tốt họ có thể được ra tù sau 20 năm bị kết án, hay muộn hơn là 30 năm. Một số trường hợp khác như phạm nhân đã già yếu hoặc bị bệnh hiểm nghèo đều được xem xét cho ra tù trước thời hạn.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]