Cuộc đổ bộ lên vịnh Lingayen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cuộc đổ bộ lên vịnh Lingayen
Một phần của Chiến tranh Thái Bình Dương thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai
USS Pennsylvania moving into Lingayen Gulf.jpg

Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tiếp cận vịnh Lingayen
.
Thời gian 9 tháng 1, 1945
Địa điểm vịnh Lingayen, Luzon, Philippines
Kết quả Chiến thắng quyết định của Đồng Minh
Tham chiến
Cờ của Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Cờ của Úc Úc
Flag of the Empire of Japan Đế quốc Nhật Bản
Chỉ huy
Cờ của Hoa Kỳ Jesse B. Oldendorf;
Cờ của Hoa Kỳ Walter Krueger
Lực lượng
800+ tàu;
203.608 lính
không rõ
Tổn thất
24 tàu bị đánh chìm
67 tàu bị hư hại
không rõ
.

Cuộc đổ bộ lên vịnh Lingayen là một chiến dịch đổ bộ do lực lượng Đồng Minh thực hiện ở Philippines trong Thế chiến II. Sáng sớm ngày 9 tháng 1, 1945, quân Đồng Minh chỉ huy bởi Đô Đốc Jesse B. Oldendorf bắt đầu tiếp cận Lingayen. Những tàu chiến của Hải quân Hoa KỳHải quân Hoàng gia Úc khởi động chiến dịch bắn phá các vị trí nghi ngờ của quân Nhật dọc theo bờ biển Lingayen từ vị trí của họ ở vịnh Lingayen.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt Thế chiến II, vịnh Lingayen trở thành một trong những chiến trường quan trọng trên mặt trận Thái Bình Dương đối với cả lực lượng Hoa Kỳ và Đế quốc Nhật Bản. Ngày 22 tháng 12, 1941, Quân đoàn 14 Nhật dưới sự chỉ huy của Trung Tướng Masaharu Homma đổ bộ lên phần phía Đông của vịnh tại Agoo, Caba, Santiago và Bauang. Ở những nơi này họ chạm trán với một số lực lượng nhỏ[1] được trang bị yếu kém gồm chủ yếu là lính MỹPhilippines, rồi sau đó làm chủ được toàn bộ vịnh. Sau thất bại tại vịnh Lingayen Tướng MacArthur ban bố lệnh rút lui khỏi Luzon về Bataan. Và nơi này trong suốt 3 năm sau đó vẫn nằm trong quyền kiểm soát của người Nhật cho đến cuộc đổ bộ lên vịnh Lingayen.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc 9:30 sáng ngày 9 tháng 1, 1945, khoảng 68.000 lính chỉ huy bởi Tướng Walter Krueger thuộc Tập đoàn quân số 6 (Hoa Kỳ), theo sau các cuộc bắn phá dữ dội của Hải quân rồi đổ bộ lên vịnh Lingayen và không gặp phải sự chống trả nào. Tổng cộng 203.608 lính đã đổ bộ thành công trong vài ngày sau trên một bờ biển trải dài 20 dặm, từ Sual, Lingayen và Dagupan (nơi đóng của Quân đoàn XIV) đi về hướng Tây, và từ San Fabian (nơi Quân đoàn I đóng) về hướng Đông. Lực lượng quân đội do Tướng MacArthur chỉ huy thậm chí đã vượt cả số lính Mỹ do Eisenhower chỉ huy ở chiến trường châu Âu[2]. Chỉ trong vài ngày sau đó, lực lượng đổ bộ nhanh chóng kiểm soát được các thị trấn ven biển dọc theo nơi đổ bộ, bao gồm cả San Fabian.

Bất chấp những thành công nhanh chóng trong việc tiêu diệt các căn cứ Nhật trên đất liền, quân Mỹ cũng phải gánh chịu tổn thất đáng kể, đặc biệt là ở đội tàu hộ tống do những cuộc tấn công tự sát kamikaze thực hiện bằng máy bay. Từ ngày 4 đến 12 tháng 1, tất cả có 24 tàu bị đánh chìm và 67 chiếc khác bị hư hại bởi những máy bay loại này bao gồm cả những thiết giáp hạm như USS MississippiUSS Colorado (bị trúng hỏa lực của đồng đội), tuần dương hạm hạng nặng HMAS Australia, tuần dương hạm hạng nhẹ USS Columbia, và tàu khu trục USS Long, USS Hovey [2]. Sau cuộc đổ bộ, nơi đây trở thành tiền đồn quan trọng trong việc tiếp tế các cuộc chiến tiếp theo tại Manila và trên toàn quần đảo Philippines.

Tưởng niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 1, 2008, Tổng thống Amado Espino, Jr. và Phó Tổng thống Marlyn Primicias-Agabas chính thức dùng ngày này để vinh danh các cựu chiến binh. Và ngày 9 tháng 1 được mang tên Ngày cựu chiến binh Pangasinan ở Philippines. Trong buỗi lễ kỷ niệm lần thứ 63 cuộc đổ bộ tại vịnh Lingayen, Tổng thống Fidel Ramos kêu gọi Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush thông qua hai đạo luật tại Hạ viện Hoa Kỳ về quyền lợi của 24.000 cựu chiến binh Philippines – đó là Đạo luật Ngân quỹ cựu chiến binh Philippines năm 2006 và Đạo luật Ngân quỹ cựu chiến binh Philippines năm 2005 được bảo trợ bởi Thượng nghị sĩ Daniel Inouye.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]