Cua dừa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Birgus latro
Coconut Crab Birgus latro.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Phân ngành (subphylum) Crustacea
Lớp (class) Malacostraca
Bộ (ordo) Decapoda
Liên họ (superfamilia) Paguroidea
Họ (familia) Coenobitidae
Chi (genus) Birgus
(W. E. Leach, 1815)
Loài (species) B. latro
Danh pháp hai phần
Birgus latro
(Linnaeus, 1767[2]
Cua dừa sống ở phần lớn bờ biển ở khu vực bôi xanh biển; các điểm đỏ là nơi chủ yếu còn các điểm vàng là nơi thứ sống thứ cấp
Cua dừa sống ở phần lớn bờ biển ở khu vực bôi xanh biển; các điểm đỏ là nơi chủ yếu còn các điểm vàng là nơi thứ sống thứ cấp
Danh pháp đồng nghĩa [3]

Cua dừa, (danh pháp hai phần: Birgus latro), là một loài cua ký cư trên cạn. Đây là động vật chân đốt sinh sống trên cạn lớn nhất thế giới, và có lẽ là ở trên giới hạn kích thước lớn nhất cho động vật trên cạn bộ khung xương ngoài trong bầu khí quyển Trái Đất gần đây, với trọng lượng lên đến 4,1 kg (£ 9,0). Nó có thể phát triển lên đến chiều dài 1 m từ chân đến chân. Nó được tìm thấy trên các hòn đảo trên Ấn Độ Dương và các khu vực của Thái Bình Dương như xa về phía đông là quần đảo Gambier, phản ánh sự phân bố của dừa, nó đã tuyệt chủng tại hầu hết các khu vực có dân số đáng kể, bao gồm đất liền Úc và Madagascar. Cua dừa là loài duy nhất của chi Birgus, và có liên quan đến những con cua ký cư trên mặt đất thuộc chi Coenobita. Nó cho thấy một số thích nghi với cuộc sống trên đất liền. Như tôm ký cư, cua dừa vị thành niên sử dụng vỏ trống để bảo vệ, nhưng những con trưởng thành phát triển một bộ xương ngoài cứng rắn trên bụng và ngừng mang theo một vỏ. Cua dừa đã phát triển các cơ quan được gọi là "phổi branchiostegal", được sử dụng thay vì mang thoái hóa để thở. Chúng không thể bơi, và sẽ bị chết đuối nếu chìm trong nước trong thời gian dài. Chúng đã có khứu giác phát triển, chúng sử dụng nó để tìm kiếm các nguồn thực phẩm tiềm năng. Giao phối xảy ra trên đất liền, nhưng con cái di cư ra biển để đẻ trứng thụ tinh của chúng khi chúng nở. Các ấu trùng phù du trong 3-4 tuần, trước khi quyết định đến đáy biển và bước vào một vỏ bụng. Cua đạt độ thành thục sinh dục đạt được sau khoảng 5 năm, và tổng số tuổi thọ có thể được hơn 60 năm.

Cua dừa lớn ăn trái cây, các loại hạt, và phần lõi của cây đổ, nhưng sẽ những chất rữa và chất hữu cơ khác một cách cơ hội. Loài này được phổ biến liên quan đến dừa, chúng leo lên cây dừa và ăn quả dừa bằng cách bổ vỏ và ăn cơm dừa. Tuy nhiên, dừa không phải là một phần quan trọng của chế độ ăn uống của chúng. Cua dừa bị săn bắt bất cứ nơi nào chúng tiếp xúc với mọi người, và có thể bảo vệ pháp luật trong một số khu vực.

mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Birgus latro là loài động vật chân đốt sống trên mặt đất lớn nhất thế giới;[4][5] ghi nhận kích thước của Birgus latro khác nhau nhưng phần lớn nguồn cho thấy thân dài đến 40 cm (16 in),[6] và cân nặng đến 4,1 kg (9,0 lb)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ], và một sải chân dài hơn 0,91 m (3,0 ft)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ],[7] con đực thường lớn hơn con cái.[8] Mai có thể đạt chiều dài 78 mm (3,1 in), và rộng đến 200 mm (7,9 in).[5]

Cơ thể của cua dừa, giống như tất cả decapoda, được chia thành phần phía trước (đầu ngực), trong đó có 10 chân, và bụng. Cặp chân phía trước nhất có càng lớn. (Móng vuốt), bên trái lớn hơn bên phải.[9] Hai cặp chân tiếp theo với móng nhọn, cho phép cua dừa leo lên bề mặt thẳng đứng hoặc nhô ra.[10] Cặp chân thứ tư nhỏ với càng giống như nhíp ở cuối, cho phép cua dừa trẻ bám chặt vào bên trong vỏ hoặc vỏ dừa để tự bảo vệ, cua trưởng thành sử dụng cặp này cho đi bộ và leo trèo. Cặp chân cuối cùng rất nhỏ và được sử dụng bởi cua cái để chăm sóc trứng của chúng, và những con đực trong giao phối.[9] Cặp chân cuối cùng này thường nằm bên trong mai, trong khoang chứa các cơ quan hô hấp. Có một số sự khác biệt về màu sắc giữa các loài động vật trên hòn đảo khác nhau, từ màu đỏ da cam đến tím xanh;[11] trong hầu hết các vùng, màu xanh da trời là màu sắc chủ đạo, nhưng ở một số nơi, trong đó có Seychelles, hầu hết các cá thể có màu đỏ.[9]

Although Birgus latro là loài có nguồn gốc của cua ký cư, chỉ con non mới sử dụng vỏ ốc để tự bảo vệ bụng mềm của mình, và con lớn hơn đôi khi sử dụng vỏ dừa bị hỏng để bảo vệ bụng của chúng. Không giống như cua ẩn sĩ khác, những con cua dừa lớn không mang vỏ nhưng thay vì đó làm cứng lưng bụng bằng bồi lên chất kitin và đá phấn. Không bị hạn chế bởi các giới hạn vật lý của cuộc sống trong một vỏ cho phép loài này phát triển lớn hơn nhiều so với cua ẩn sĩ khác trong họ Coenobitidae.[12] Like most true crabs, B. latro uốn cong đuôi xuốnng dưới thn để bảo vệ.[9] Bụng đã được làm cứng bảo vệ cua dừa và giảm mất nước trên mặt đất nhưng được thay theo định kỳ. Con trưởng thành thay vỏ bụng hàng năm và đào hang dài đến 1 m (3 ft 3 in) và chúng trong trốn trong đó để tránh bị thương tổn.[10] Nó vẫn còn ở trong hang từ 3 đến 16 tuần, tùy thuộc vào kích thước của chúng.[10] Sau khi lột vỏ, nó cần 1-3 tuần cho xương ngoài cứng lên, tùy thuộc vào thân nó mềm và dễ bị tổn thương hay không, và vẫn trốn để bảo vệ.[13]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ L. G. Eldredge (1996). “Birgus latro”. Loài bị đe dọa trong sách Đỏ. Version 2.3. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011. 
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên McLaughlin2010
  3. ^ Patsy A. McLaughlin, Tomoyuki Komai, Rafael Lemaitre & Dwi Listyo Rahayu (2010). Part I – Lithodoidea, Lomisoidea and Paguroidea (PDF). Trong Martyn E. Y. Low and S. H. Tan. “Annotated checklist of anomuran decapod crustaceans of the world (exclusive of the Kiwaoidea and families Chirostylidae and Galatheidae of the Galatheoidea)”. Zootaxa. Suppl. 23: 5–107. 
  4. ^ Ronald G. Petocz (1989). “Physical and biological characteristics”. Conservation and Development in Irian Jaya: a Strategy for Rational Resource Utilization. Leiden, Netherlands: Brill Publishers. tr. 7–35. ISBN 978-90-04-08832-0. 
  5. ^ a ă Drew et al. (2010), p. 46
  6. ^ Piotr Naskrecki (2005). The Smaller Majority. Cambridge, Massachusetts: Belknap Press of Harvard University Press. tr. 38. ISBN 978-0-674-01915-7. 
  7. ^ World Wildlife Fund (2001). “Maldives-Lakshadweep-Chagos Archipelago tropical moist forests (IM0125)”. Terrestrial Ecoregions. National Geographic. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2009. 
  8. ^ Drew et al. (2010), p. 49
  9. ^ a ă â b Fletcher (1993), p. 644
  10. ^ a ă â Peter Greenaway (2003). “Terrestrial adaptations in the Anomura (Crustacea: Decapoda)” (PDF). Memoirs of Museum Victoria 60 (1): 13–26. 
  11. ^ “Coconut crab (Birgus latro)”. ARKive. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. 
  12. ^ J. W. Harms (1932). “Birgus latro L. als Landkrebs und seine Beziehungen zu den Coenobiten”. Zeitschrift für Wissenschaftliche Zoologie (bằng tiếng Đức) 140: 167–290. 
  13. ^ W. J. Fletcher, I. W. Brown, D. R. Fielder & A. Obed (1991). Moulting and growth characteristics. tr. 35–60.  In: Brown & Fielder (1991)

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]