Hàng xóm của tôi là Totoro

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hàng xóm của tôi là Totoro
Đạo diễn Hayao Miyazaki
Sản xuất Toru Hara
Kịch bản Hayao Miyazaki
Diễn viên Chika Sakamoto
Noriko Hidaka
Shigesato Itoi
Sumi Shimamoto
Hitoshi Takagi
Toshiyuki Amagasa
Tanie Kitabayashi
Âm nhạc Joe Hisaishi
Phát hành Toho (Nhật Bản)
Studio Ghibli (Nhật Bản)
Walt Disney Pictures (Hoa Kỳ)
Độ dài 86 min
Ngôn ngữ Tiếng Nhật

Hàng xóm của tôi là Totoro (となりのトトロ / Tonari no Totoro trong tiếng Nhật, My neighbor Totoro trong tiếng Anh) là một phim hoạt hình Nhật Bản được sản xuất vào năm 1988 của hãng Ghibli, kịch bản và đạo diễn bởi Hayao Miyazaki - vua hoạt hình của Nhật Bản. "Hàng xóm của tôi là Totoro" có thể coi là một trong những phim hoạt hình lớn đầu tiên của Hayao Miyazaki, tác phẩm này vui tươi, trong sáng, phù hợp với mọi lứa tuổi và thành phần. Nó mở màn cho loạt phim hoạt hình vẽ bằng tay sau này.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.

Gia đình Kusakabe chuyển về vùng thôn quê sinh sống. Căn nhà mới mà họ sắp ở dân làng đồn đại là bị ma ám. Nhưng điều ấy chẳng làm lay chuyển nỗi tò mò, hiếu động của hai chị em nhà Kusakabe: Satsuki và Mei. Tại ngôi nhà mới, Satsuki và Mei kết thân với bà hàng xóm tốt bụng tên Nanny và cậu bé Kanta, cùng tuổi với Satsuki. Trong một lần chạy chơi vào khu rừng gần nhà, cô em gái Mei mới 4 tuổi đã tình cờ gặp gỡ con thú khổng lồ, vị chúa tể của khu rừng. Mei không những không sợ hãi mà còn trèo lên cái bụng bự của nó mà nghịch ngợm. Cô bé đặt tên cho con vật kì lạ này là Totoro, theo tên con thú trong cuốn sách tranh của cô. Sau đó do mệt nên Mei dần ngủ thiếp đi, tới khi tỉnh lại, Totoro đã biến mất. Khi Mei kể về con vật kì lạ ấy, cô chị Satsuki cũng muốn được gặp Totoro một lần.

Satsuki và Mei ra bến xe buýt đón bố về, họ đứng chờ rất lâu dưới trời mưa. Mei buồn ngủ nhưng lại nhất quyết không chịu về nhà nên Satsuki phải cõng em trên vai. Bỗng Satsuki thấy một con thú lông lá, to lớn cũng đang đứng chờ xe buýt. Cô bé đoán ra nó chính là Totoro. Thấy Totoro đứng ướt sũng dưới mưa, Satsuki đã cho nó mượn cái dù mà hai chị em mang theo cho bố. Đúng lúc ấy, xe buýt hình mèo của Totoro đến. Trước khi lên xe, Totoro tặng hai chị em một chiếc túi được gói cẩn thận để cảm ơn Satsuki đã cho nó cây dù. Sáng hôm sau họ mở gói quà ra, thấy bên trong chứa toàn hạt cây. Satsuki và Mei quyết định gieo trồng chúng trên một mảnh vườn bé xinh. Mei ngày nào cũng ra xem, mong đợi hạt giống nảy mầm. Vào một đêm trăng tròn, hai chị em mơ thấy những hạt giống lớn lên thành cái cây thật cao và họ còn được cùng với Totoro bay vút lên trời. Khi hai chị em thức dậy, quả nhiên các hạt giống đã nảy mầm (nhưng chưa biến thành cái cây to như trong giấc mơ.)

Mẹ Satsuki và Mei không thể về nhà như đã hẹn vì bệnh viện báo rằng bệnh của mẹ trở nặng. Mei khóc la khi nghe tin khiến cô chị Satsuki phát bực. Thế là hai đứa trẻ giận dỗi nhau cả ngày. Cuối cùng, Mei quyết định sẽ một mình đến bệnh viện thăm mẹ, hậu quả là bị lạc đường. Satsuki sau một hồi chạy đi khắp nơi tìm em, cô vội vàng đến chỗ Totoro, xin nó giúp đỡ. Totoro mỉm cười và cho Satsuki mượn chiếc xe buýt mèo của nó. Nhờ chiếc xe thần kì, Satsuki tìm thấy Mei và họ cùng đến bệnh viện để kín đáo theo dõi mẹ. Trên cành cây, hai chị em rất đỗi vui mừng vì mẹ vẫn khỏe, ít lâu nữa có thể về nhà. Mei nhẹ nhàng đặt trái bắp ngô mà bà hàng xóm tặng lên bục cửa sổ phòng mẹ, trên vỏ trái bắp khắc chữ "Tặng mẹ".

Kết thúc phim là cảnh hai chị em ngồi trên xe buýt mèo quay lại làng. Ở đó, bà Nanny và cậu bé Kanta đang chờ họ. Mọi người vui vẻ dắt tay nhau trở về.

Hết phần cho biết trước nội dung.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình Kusakabe[sửa | sửa mã nguồn]

  • Satsuki: Cô bé 11 tuổi dễ thương và đầy cá tính. Dù còn nhỏ nhưng cô đã biết chăm lo việc nhà chu đáo, thay cho người mẹ đang nằm bệnh. Satsuki khá xinh so với những bạn gái khác trong lớp. Cô có mái tóc cắt ngắn và trán hơi dô, gương mặt có nét rất giống mẹ.
  • Mei: Em gái của Satsuki, 4 tuổi. Nhìn chung cô bé là một đứa trẻ hiếu động, hoạt bát, can đảm. Mei rất thân thiết với chị mình, dù luôn tỏ ra vui tươi nhưng trong lòng cô bé rất nhớ mẹ. Ngược với Satsuki, cô bé có khuôn mặt giống cha.
  • Ông Kusakabe: Bố của Satsuki & Mei. Ông Kusakabe làm việc ở trường Đại học, là người cha tốt, yêu thương vợ con và biết chăm lo cho gia đình.
  • Bà Kusakabe: Mẹ của Satsuki và Mei, một người phụ nữ dịu dàng, xinh đẹp. Vì bà bị bệnh khá nặng nên cả gia đình đã chuyển về vùng quê với hi vọng không khí trong lành sẽ làm bà khỏe lên.

Hàng xóm của nhà Kusakabe[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kanta: Cậu bạn học chung lớp với Satsuki ở trường làng, con trai một gia đình nông dân nghèo, có tình cảm với Satsuki. Vì tính nhút nhát trước con gái nên cậu hay đối xử với cô khá cộc cằn nhưng tốt bụng. Kanta chính là cháu ruột của bà Nanny.
  • Nanny: Bà cụ hàng xóm hiền từ giúp đỡ gia đình Kusakabe từ ngày mới chuyển về vùng quê. Bà thường trông nom hai chị em Satsuki và Mei mỗi khi người cha đi làm ở xa.

Nhóm Totoro[sửa | sửa mã nguồn]

  • O Totoro: Con thú thần bảo vệ và cai quản khu rừng cạnh làng của 2 chị em Kusakabe, chỉ có trẻ con mới nhìn thấy nó. Totoro có khả năng làm cây mọc nhanh, bay và gọi xe buýt mèo.
  • Chu Totoro & Chibi Totoro: Hai con Totoro nhỏ luôn đi theo Totoro lớn. Chu Totoro ngoại hình giống Totoro lớn nhưng nhỏ hơn nhiều. Chibi Totoro là con nhỏ nhất, có màu trắng.
  • Xe buýt mèo/ Neko bus: Xe buýt có hình con mèo đặc biệt của Totoro. Nó có thể đi rất nhanh và buộc mọi thứ trên đường phải nhường chỗ cho nó.

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như tất cả anime khác của Ghibli, "My neighbor Totoro" được nhạc sĩ Joe Hisaishi phụ trách về âm nhạc. Anime gồm các bản nhạc chính sau:

  • Stroll - Đi dạo (ca khúc đầu phim), trình bày bởi nữ ca sĩ Azumi Inoue.[1]
  • My neighbor Totoro (ca khúc kết thúc phim, cũng là nhạc chủ đề), trình bày bởi Wanbi.[2]
  • The Path of the wind (Evening wind) - ca khúc nhạc nền của phim, mang phong cách nhạc đồng quê, có hai phiên bản "nhạc có lời"[3] và "nhạc hòa tấu".[4] Trong phim dùng phiên bản hòa tấu.

Thành công[sửa | sửa mã nguồn]

Anime lấy bối cảnh Nhật Bản những năm 1930, khi đất nước này còn nghèo nàn. Khung cảnh chủ yếu là rừng núi, vườn tược tương tự như các anime trước và sau này của Hayao Miyazaki. Cảnh phim khá chân thật và nét vẽ sinh động đến từng chi tiết, khán giả xem phim có cảm giác như thật.

Ý nghĩa to lớn nhất ở "My neighbor Totoro" chính là ca ngợi tình người một cách thật giản dị. Cảnh ba cha con Kusakabe đi xe đạp tới bệnh viện thăm mẹ, tiếng nói cười hồn nhiên của hai chị em Satsuki, Mei dưới ánh trăng tròn khi họ chơi đùa cùng Totoro, nỗi vui mừng của bà Nanny lẫn cậu bé Kanta khi Satsuki tìm thấy Mei an toàn... Tất cả đều toát lên sự dễ thương, màu nhiệm luôn luôn diễn ra hằng ngày trong cuộc đời. Phép lạ trong phim không quá xa vời và phô bày như những phim hoạt hình khác của Disney. Mọi chi tiết đều nhẹ nhàng, đơn giản nhưng sâu sắc đúng như phong cách kín đáo, thâm trầm của người Đông phương nói chung và dân tộc Nhật nói riêng.

Âm nhạc phim khá hay, sử dụng nhạc nền nhẹ nhàng cho bối cảnh phim là một vùng quê yên bình. "My neighbor Totoro" cho ta thấy thế giới mãi mãi tồn tại những phép màu cổ tích.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]