Hải An, Hải Phòng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quận Hải An
Quận
Mot doan duong tai quan Hai An.jpg
Trên đường Lê Hồng Phong (Đoạn thuộc địa phận Quận Hải An)
Địa lý
Tọa độ: 20°49′38″B 106°45′57″Đ / 20,82722°B 106,76583°Đ / 20.82722; 106.76583Tọa độ: 20°49′38″B 106°45′57″Đ / 20,82722°B 106,76583°Đ / 20.82722; 106.76583
Diện tích 98,32 km2
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 134.137 người
 Mật độ 791 người/km2
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Duyên hải Bắc Bộ
Thành phố Hải Phòng
Thành lập 20 tháng 12 năm 2002[1]
 Bí thư Quận ủy Phạm Thành Văn
Phân chia hành chính Quận có tổng cộng 8 phường[2]:
Mã hành chính 306
Website Quận Hải An

Quận Hải An là quận thuộc Thành phố Hải Phòng, được thành lập ngày 20 tháng 12 năm 2002, theo nghị định 106/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam trên cơ sở tách 5 xã: Đằng Hải, Đằng Lâm, Đông Hải, Nam Hải, Tràng Cát thuộc huyện An Hải (cũ) và phường Cát Bi thuộc quận Ngô Quyền, với diện tích 88,39 km2, dân số khoảng 77.600 người vào năm 2002.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Hải An là quận nằm ở phía Đông, thuộc khu vực trung tâm của Thành phố Hải Phòng, thuận lợi cơ bản cả về giao lưu đường bộđường thuỷ, cụ thể là:

Kinh tế & Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc mới thành lập quận vẫn có một phần lớn là diện tích đất nông nghiệp và đất hoang hoá, phần còn lại là đất công nghiệp của các khu công nghiệp Đình Vũ và Vũ Yên. Nền kinh tế nông công nghiệp xen kẽ, kinh tế dịch vụ chưa phát triển. Tuy nhiên những năm gần đây tỷ lệ đô thị hóa rất cao, nhiều đương phố mới xuất hiện, đường làng ngõ xóm được mở rộng. Kinh tế Dịch vụ của quận phát triển mạnh mẽ.

Điều kiện kinh tế, xã hội của quận rất phức tạp, đặc biệt là kém phát triển so với các quận khác. Tuy nhiên, với ưu thế của quận mới có quỹ đất nông nghiệp dồi dào, ưu thế của quận xây dựng sau, Hải An có nhiều thuận lợi trong việc quy hoạch và xây dựng quận ngay từ đầu theo hướng hiện đại phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của đô thị hiện đại.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện Hải An có tổng cộng 8 phường, trong đó bao gồm: Cát Bi, Đông Hải 1, Đông Hải 2, Đằng Hải, Đằng Lâm, Nam Hải, Thành Tô, Tràng Cát.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, Hải An có các đầu mối giao thông quan trọng của thành phố Hải Phòng, bao gồm các tuyến đường bộ, đường thuỷ, đường sắtđường hàng không. Địa bàn quận được bao quanh bởi hệ thống sông Lạch Tray, sông Cấm có cửa Nam Triều đổ ra Vịnh Bắc Bộ.

Trục đường giao thông liên tỉnh quan trọng nhất chạy qua địa bàn quận là Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với Hải Phòng. Các tuyến đường trung tâm thành phố chạy đến quận như đường Trần Hưng Đạo, Lê Hồng Phong, đường ra đảo Đình Vũ, Cát Bà. Có Cảng Chùa Vẽ, Cảng Cửa Cấm, Cảng Quân sự và một số cảng chuyên dùng khác, Có tuyến đường sắt từ Ga Lạc Viên đến Cảng Chùa Vẽ. Có sân bay Cát Bi với năng lực vận chuyển 500.000 lượt hành khách và gần 2.000 tấn hàng mỗi năm. Đây cũng là một trong những điểm lợi thế của quận cần được chú ý khai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của quận.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo nghị định 106/NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ Việt Nam
  2. ^ Hành chính của Quận Hải An,Cổng thông tin điện tử Quận Hải An.
Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp quận huyện trực thuộc thành phố Hải Phòng, Việt Nam
Quận (7): Dương Kinh | Đồ Sơn | Hải An | Hồng Bàng | Kiến An | Lê Chân | Ngô Quyền
Huyện (8): An Dương | An Lão | Bạch Long Vĩ | Cát Hải | Kiến Thụy | Thủy Nguyên | Tiên Lãng | Vĩnh Bảo