Hệ thống điện Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hệ thống điện Việt Nam gồm có các nhà máy điện, các lưới điện, các hộ tiêu thụ được liên kết với nhau thành một hệ thống để thực hiện 4 quá trình sản xuất, truyền tải, phân phối và tiêu thụ điện năng trong lãnh thổ Việt Nam.

Nhà máy điện: là nơi sản xuất(chuyển đổi)ra điện năng từ các dạng năng lượng khác.

  • Nhà máy nhiệt điện Phả lại, Uông bí
  • Thủy điện (Hòa Bình, Sơn La...)
  • Điện hạt nhân (Ninh thuận vào năm 2012-2017,công suất 2000 MW)

Lưới điện: làm nhiệm vụ truyền tải và phân phổi điện năng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ

  • Lưới hệ thống:Nối các nhà máy điện với nhau và với các nút phụ tải khu vực. Ở Việt Nam lưới hệ thống do A0 quản lý, vận hành ở mức điện áp 500 KV
  • Lưới truyền tải:Phần lưới từ trạm trung gian khu vực đến thanh cái cao áp cung cấp điện cho trạm trung gian địa phương.Thường từ 110-220KV do A1,A2,A3 quản lý
  • Lưới phân phối:Từ các trạm trung gian địa phương đến các trạm phụ tải(trạm phân phối). Lưới phân phối trung áp (6-35kV)do sở điện lực tỉnh quản lý và phân phối hạ áp (380/220V)

Hộ tiêu thụ:Do đặc điểm và yêu cầu từng loại khách hàng sử dụng điện nên phụ tải điện được chia ra

  • Hộ loại 1:Hộ tiêu thụ quan trọng nếu ngừng cung cấp điện nguy hiểm đến sức khỏe tính mạng con người, gây thiệt hại lớn về kinh tế, an ninh, quốc phòng
  • Hộ loại 2:Nếu ngừng cung cấp chỉ gây thiệt hại về kinh tế như quá trình sản xuất bị gián đoạn.
  • Hộ loại 3:Là những hộ còn lại