Họ Chuột sóc
| Họ Chuột sóc Thời điểm hóa thạch: 50–0 Ma Eocen sớm - gần đây |
||||||||||||
Chuột sóc châu Phi, Graphiurus sp.
|
||||||||||||
| Phân loại khoa học | ||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
||||||||||||
| Các phân họ và chi | ||||||||||||
Chuột sóc là tên gọi chung để chỉ các loài động vật gặm nhấm thuộc họ Gliridae. Các loài này chủ yếu được tìm thấy ở châu Âu, nhưng có một vài loài ở châu Phi và châu Á. Chúng được biết đến với thời gian ngủ đông dài, có thể tới 6 tháng nếu như nhiệt độ còn đủ thấp[1].
Mục lục |
Đặc điểm sinh học [sửa]
Chuột sóc là các loài động vật gặm nhấm nhỏ, với chiều dài cơ thể khoảng 6–19 cm (2,4-7,5 inch), cân nặng 15-200 g (0,53-7,1 oz). Bề ngoài của chúng giống như chuột, nhưng đuôi có lông che phủ chứ không phải là vảy. Nói chung, chúng chủ yếu sống trên cây, nhanh nhẹn và thích nghi tốt với việc leo trèo. Phần lớn các loài kiếm ăn ban đêm, với thính giác tốt và chúng báo hiệu cho nhau bằng nhiều loại tiếng kêu[1]. Đây là những loài động vật có vú nhỏ nhất, lười nhất và nhát nhất trong thế giới động vật. Chuột sóc hoạt động chủ yếu vào cuối mùa xuân, mùa hè và mùa thu bằng cách ăn trái cây, mật hoa, côn trùng và các loại hạt để vỗ béo cho giấc ngủ sâu của chúng xuyên suốt mùa đông[2].
Chuột sóc ăn tạp. Thức ăn của chúng là hạt các loại quả, quả mọng, quả hạch, hoa và côn trùng, chẳng hạn như quả phỉ, mâm xôi, quả cây cơm cháy, tầm xuân thậm chí cả táo gai và mận gai. Đầu mùa thu, trọng lượng cơ thể chúng thường đạt từ 15-22 g, và tăng lên 25-40 g khi bắt đầu đợt ngủ đông trong lòng đất. Chuột sóc ngủ đông suốt 8 tháng. Chúng thường chui lên mặt đất vào mùa xuân với trọng lượng như lúc đầu thu[3]. Chuột sóc không có ruột tịt, một bộ phận của ruột, mà ở các loài khác có tác dụng lên men các loại thức ăn nguồn gốc thực vật. Công thức bộ răng của chúng như ở các loài sóc, nhưng thường thì chúng không có các răng tiền hàm.
Công thức bộ răng:
| 1.0.0–1.3 |
| 1.0.0–1.3 |
Chuột sóc đẻ khoảng 1-2 lần mỗi năm, mỗi lứa khoảng 4 con, sau thời kỳ mang thai kéo dài 21-32 ngày. Con sơ sinh không lông và yếu ớt, chỉ mở mắt sau khoảng 18 ngày kể từ khi ra đời. Tuổi thọ của chuột sóc tới 5 năm. Thường thì chúng thuần thục sinh sản sau kỳ ngủ đông đầu tiên. Chúng sống thành các nhóm nhỏ theo gia đình. Phạm vi hoạt động và chiếm giữ lãnh thổ của chúng tùy theo từng loài và phụ thuộc vào độ sẵn có của nguồn thức ăn[1].
Phân loại [sửa]
Họ Chuột sóc bao gồm 29 loài còn sinh tồn, được chia ra trong 3 phân họ và 9 chi (có tranh cãi):
HỌ GLIRIDAE – Chuột sóc
- Phân họ Graphiurinae
- Chi Graphiurus, chuột sóc châu Phi
- Chuột sóc Angola, Graphiurus angolensis
- Chuột sóc Christy, Graphiurus christyi
- Chuột sóc Jentink, Graphiurus crassicaudatus
- Chuột sóc Jouhnston, Graphiurus johnstoni
- Chuột sóc Kellen, Graphiurus kelleni
- Chuột sóc Lorrain, Graphiurus lorraineus
- Chuột sóc tai nhỏ, Graphiurus microtis
- Chuột sóc Monard, Graphiurus monardi
- Chuột sóc đồng rừng, Graphiurus murinus
- Chuột sóc Nagtglas, Graphiurus nagtglasii
- Chuột sóc kính, Graphiurus ocularis
- Chuột sóc đầu phẳng, Graphiurus platyops
- Chuột sóc núi đá, Graphiurus rupicola
- Chuột sóc Guinea, Graphiurus surdus
- Graphiurus walterverheyeni [4]
- Chi Graphiurus, chuột sóc châu Phi
- Phân họ Leithiinae
- Chi Chaetocauda
- Chuột sóc Tứ Xuyên (thụy thử), Chaetocauda sichuanensis
- Chi Dryomys
- Chuột sóc Anatolia, Dryomys laniger
- Chuột sóc rừng Balochistan, Dryomys niethammeri
- Chuột sóc rừng, Dryomys nitedula
- Genus Eliomys, garden dormice
- Chuột sóc vườn đuôi đen, Eliomys melanurus
- Chuột sóc vườn Maghreb, Eliomys munbyanus
- Chuột sóc vườn, Eliomys quercinus
- Chi Hypnomys† (Chuột sóc Balearic)
- Chuột sóc lớn Majorca, Hypnomys morphaeus†
- Chuột sóc lớn Minorca, Hypnomys mahonensis†
- Chi Muscardinus
- Chuột sóc phỉ, Muscardinus avellanarius
- Chi Myomimus, chuột sóc đuôi chuột
- Chuột sóc Kopet Dag, Myomimus personatus
- Chuột sóc Roach, Myomimus roachi
- Chuột sóc Setzer, Myomimus setzeri
- Chi Selevinia
- Chuột sóc sa mạc, Selevinia betpakdalaensis
- Chi Chaetocauda
- Phân họ Glirinae
- Chi Glirulus
- Chuột sóc Nhật Bản, Glirulus japonicus
- Chi Glis
- Chuột sóc thông thường, Glis glis
- Chi Glirulus
Hóa thạch [sửa]
- Phân họ Bransatoglirinae
- Chi Oligodyromys
- Chi Bransatoglis
- Bransatoglis adroveri Majorca, Oligocen sớm
- Bransatoglis planus đại lục Á-Âu, Oligocen sớm
Bảo tồn [sửa]
Ở một số nơi, sự tồn tại của chuột sóc có nguy cơ bị tận diệt, tại Anh, số lượng chuột sóc đã suy giảm đáng kể. Hàng năm, người Anh sử dụng máy móc cắt đi rất nhiều hàng rào cây cối, nơi sinh sống của chuột sóc. Ngoài ra do con người chặt bớt thực vật nên lũ chuột sóc thiếu cái ăn có thể đã chết đói trong khi ngủ đông. Theo tổ chức Sứ mệnh của Con người đối với các động vật có nguy cơ tuyệt chủng (PTES), cần ít nhất hai năm kể từ năm 2012 cây cối ở vùng này mới mọc lại như cũ, tạo ra đủ thức ăn cho loài này[3].
Chính phủ Anh đã có nhiều biện pháp để bảo vệ loài này, chuột sóc đã chính thức được luật pháp bảo vệ. Trong khuôn khổ chương trình phục hồi các loài động vật, cơ quan cố vấn của chính phủ Anh về đời sống hoang dã vừa đưa một số con chuột sóc đến vài địa phương, sau đó đưa nhiều chuột sóc khác tới các khu rừng ở Cambridgeshire và Norfolk[3].
Thậm chí chính quyền vùng Rhondda Cynon ở miền Nam xứ Wales đã bắc 3 dây cầu treo với kinh phí bắc cầu là 190.000 bảng Anh (5,7 tỉ Việt Nam đồng) để dành cho chuột sóc vượt qua đường cao tốc an toàn lý do để bảo vệ động vật hoang dã, tuy nhiên một số người dân phản đối vì lãng phí[5].
Chú thích [sửa]
- ^ a b c Baudoin Claude (1984). Trong Macdonald D. The Encyclopedia of Mammals. New York: Facts on File. tr. 678–680. ISBN 0-87196-871-1.
- ^ http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111122/chuot-soc-tro-thanh-sao-tren-internet.aspx
- ^ a b c http://vietbao.vn/Khoa-hoc/Nguy-co-moi-cho-chuot-soc/10709154/188/
- ^ "Systematic Revision of Sub-Saharan African Dormice (Rodentia: Gliridae: Graphiurus) Part II: Description of a New Species of Graphiurus from the Central Congo Basin, Including Morphological and Ecological Niche Comparisons with G. crassicaudatus and G. lorraineus", Bulletin of the American Museum of Natural History 331 :314–355. 2009.
- ^ http://nld.com.vn/20100827064256972p0c1006/xay-cau-cho-chuot-soc.htm
