Josephoartigasia monesi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Josephoartigasia monesi
Thời điểm hóa thạch: 4–2Ma
Pliocene đến đầu Pleistocene
Josephoartigasia BW.jpg
Tái tạo J. monesi
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Rodentia
Phân bộ (subordo) Hystricomorpha
Họ (familia) Dinomyidae
Chi (genus) Josephoartigasia
Loài (species) J. monesi
Danh pháp hai phần
Josephoartigasia monesi[1]
Blanco & Rinderknecht, 2007

Josephoartigasia monesi là một loài gặm nhấm Caviomorpha Nam Mỹ đã tuyệt chủng, là loài gặm nhấm lớn nhất từng được biết, đã sinh sống khoảng 4-2 triệu năm trước trong thế Pliocene đến đầu Pleistocene.[1][2] Loài này có thể đã có cân nặng 1.000 kg (2.200 lb), khá lớn so với loài bà con gần nhất của nó hiện còn sống, loài pacarana.[1] Loài này có thể đã sinh sống ở môi trường cửa sông hoặc một hệ thống đồng bằng châu thổ với các cộng đồng rừng,[1] và đã có thể đã ăn cỏ mềm.[3]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

J. monesi

J. monesi được biết đến từ một sọ hầu như hoàn chỉnh được phát hiện từ Kiến tạo San José bên bờ của Río de la PlataUruguay.[1] Được phát hiện năm 1987, nhưng đã không được miêu tả khoa học chon đến năm 2008, tiêu bản được bảo quản ở Bảo tàng Nhân loại học và Lịch sử quốc gia của Uruguay.[4] Loài này là một trong hai loài trong chi Josephoartigasia genus, loài kia là J. magna.[1] J. monesi đôi khi được gọi là pacarana khổng lồ, đặt theo loài bà con gần nhất còn sống của nó pacarana (Dinomys branickii) trong họ Dinomyidae.[1]

Kích thước[sửa | sửa mã nguồn]

Sọ của mẫu gốc dài 53 cm (21 in) và răng cửa còn lại dài hơn 30 cm (12 in). Tổng chiều dài thân ước khoảng 3 m (10 ft), với chiều cao 1,5 m (5 ft).

Bằng cách so sánh hộp sọ với các loài gặm nhấm còn sống khác nhau, các tác giả của bài báo ban đầu ước tính khối lượng giữa khoảng 468 kg (1.032 lb) và 2.586 kg (5.701 lb), với khối lượng trung bình 1.211 kg (2.670 lb).[1] Một nhà nghiên cứu sau đó xem xét lại những con số này và đã đưa ra một ước tính bảo thủ hơn 350 kg (770 lb) đến 1.534 kg (3.382 lb), với trọng lượng trung bình 900 kg (2.000 lb).[5] (so với trọng lượng 800 đến 1.400 kg tê giác đen trưởng thành.)

Không có tranh cãi về loài J. monesi thay thế Phoberomys pattersoni, một loài hơi cổ hơn đã sinh sống ở Venezuela trong thời kỳ hậu Miocene, cũng là loài gặm nhấm lớn nhất. Tuy nhiên, so sánh kích thước tỏ ra khó khăn vì các ước tính trước đây cho con số trọng lượng 400 kg (880 lb) và 700 kg (1.500 lb) đối với P. pattersoni đã căn cứ vào các yếu tố chân trước và chân sau, không hiện diện ở các mẫu J. monesi.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Rinderknecht, Andrés; Blanco, R. Ernesto (January năm 2008). “The largest fossil rodent” (pdf). Proceedings of the Royal Society B 275 (1637): 923–928. doi:10.1098/rspb.2007.1645. PMC 2599941. PMID 18198140. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008. 
  2. ^ According to Rinderknecht & Blanco (2008) recent studies indicate that some strata of the San José Formation in which the specimen was found are Pleistocene, instead of Pliocene as was traditionally assumed. In any case, they do give a date range of 4–2 Mya.
  3. ^ Brahic, Catherine (16 tháng 1 năm 2008). “One-tonne rodent discovered in South America”. New Scientist. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2008. 
  4. ^ Satter, Raphael G. (16 tháng 1 năm 2008). “Fossil remains of 2,000-pound rodent found”. MSNBC. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2008. 
  5. ^ Millien, Virginie (May năm 2008). “The largest among the smallest: the body mass of the giant rodent Josephoartigasia monesi. Proceedings of the Royal Society B 275 (1646): 1953. doi:10.1098/rspb.2008.0087. PMC 2596365. PMID 18495621. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008. Tóm lược dễ hiểu. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]