Kính mắt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kính mắt

Kính mắt là một loại vật dụng để đeo trên mặt, dùng để hỗ trợ mắt hoặc làm đẹp.

Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Kính mắt gồm 3 phần chính: gọng, tròng và giá đỡ.

Gọng làm bằng kim loại hoặc chất dẻo (cứng hoặc dẻo), phần cuối được uốn cong để lên vành tai, giá đỡ có hai miếng đệm cao su, để gác lên sống mũi.

Tròng kính được làm bằng chất dẻo cứng, thay cho thủy tinh được sử dụng trước đó[cần dẫn nguồn].Chất dẻo có các đặc tính tốt như tránh nguy hiểm do các mảnh vỡ, xác định được độ chính xác hơn (cho các tật khúc xạ), với tiêu chuẩn tốt hơn hầu hết các loại thủy tinh. Nhẹ hơn tròng bằng thủy tinh, có thể làm cho tròng kính mỏng hơn tùy kĩ thuật. Có nhiều loại plastic khác nhau. Có các loại: loại chống tia cực tím, loại chống trầy xước và loại có cả hai đặc tính trên. Tròng kính được gắn vào gọng nhờ một sợi dây cước trắng và gọng được xiết chặt giữ hai tròng kính nhờ hai con đinh vít.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Hình dạng ban đầu của kính mắt được xác định đơn giản chỉ là một thấu kính bằng thạch anh được tìm thấy trong di chỉ khảo cổ ở Iraq. Tuy nhiên, những chiếc kính mắt thực sự được ghi nhận đầu tiên vào năm 1021. Cuối thế kỉ 14, kính đã xuất hiện ở Trung Quốcchâu Âu. Thấu kính của Trung Quốc kích thước to hình tròn được lồng vào khung bằng mai rùa đen với chân gọng kính bằng đồng kẹp vào búi tóc.

Thời kì đầu kính đeo mắt là loại kính đơn khi dùng thì cầm trên tay. Kính chỉ được dùng cho những người có địa vị trong xã hội chứ không nhằm mục đích để tăng thị lực.

Thế kỉ 13, kính mới được dùng rộng rãi ở châu Âu. Trong một bức vẽ của Tommaso da Modena vào năm 1352 có mô tả Hồng y Hugh de Provence đeo kính mắt. Bấy giờ, thiết kế của kính đeo mắt chỉ gồm 2 mắt kính nối với nhau bằng một gọng cứng đè lên đầu mũi, hai bên có dây đeo vào lỗ tai.

Năm 1784, Benjamin Franklin phát minh ra loại kính có 2 tiêu điểm, mà ngày nay được biết đến với tên gọi kính 2 tròng (bifocal). Năm 1887, kính áp tròng ra đời.

Năm 1930, một chuyên gia quang học ở Luân Đôn sáng chế ra hai càng (ngày nay gọi là gọng kính) để mắt kính gá vào một cách chắc chắn.

Các loại kính[sửa | sửa mã nguồn]

Có rất nhiều loại kính mắt: kính thuốc, kính râm, kính bơi, kính thợ hàn, kính trắng không số, kính thời trang v.v...

  • Kính thuốc: chỉ định cho người mắc tật khúc xạ (Cận thị, Viễn thị, Loạn thị, Lão thị). Đơn kính phải do thầy thuốc nhãn khoa chỉ định sau khi đã tiến hành khám mắt toàn diện.
  • Kính an toàn: hạn chế dị vật, chống mảnh vỡ bay vào mắt, chắn bớt sáng hay bức xạ.
  • Kính râm: giúp nhìn tốt hơn trong ánh sáng ban ngày, bảo vệ khỏi tia UV, hoặc chỉ để che đôi mắt
  • Xem ảnh 3D và 4D, thời trang, thẩm mĩ,...

Thấu kính chủ yếu được làm bằng chất liệu CR-39, ngoài ra có thể làm bằng polycarbonate hay trivex.

Hạn chế, bất tiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Không phù hợp với một số môn thể thao, đặc biệt là thể thao mạnh.
  • Dễ bị dính hơi nước do nước nóng, thức ăn nóng, bơi, mưa, thời tiết thay đổi đột ngột.
  • Khi trầy xước thì khó khôi phục, nếu khôi phục thì mất nhiều thời gian, tiền, và cần đến chuyên gia (mặc dù kính hầu như rất bền và chống xước tốt)
  • Đối với loại kính thủy tinh thì rất dễ bị vỡ khó bảo quản

Phát minh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kính mắt xuất hiện chính thức tại Trung Quốc (1270)
  • Trước 1604, người ta đã dùng kính lồi lõm để chữa cận thị, viễn thị.

Các cải tiến[sửa | sửa mã nguồn]

  • B.Franklin, phát minh kính 2 tròng để dùng cho cả cận thị và viễn thị (1784).
  • Thấu kính loạn thị phát minh do G.Airy (Anh) (1825)
  • Có nhiều cải tiến về gọng, nhiều kiểu kính ra đời.

Tầm vóc hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc sống hiện tại kính bảo hộ (kính an toàn) vẫn được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp, hóa chất, xây dựng... Bên cạnh đó nhu cầu làm đẹp và sử dụng kính râm là một nhu cầu thúc đẩy sự sáng tạo ra những kiểu loại kính thời trang. Đối với những người mắt tật khúc xạ: Mặc dù phẫu thuật laze và kính áp tròng đã phổ biến tại Việt Nam nhưng kính đeo mắt vãn không thể thiếu trong cuộc sống vì những lý do sau:

  • Không có chỉ định phẫu thuật khúc xạ (Tật khúc xạ chưa ổn định ở trẻ em).
  • Nhiều người bệnh không có điều kiện kinh tế để thực hiện phẫu thuật laze.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]