Khang Hi tự điển

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Khang Hy tự điển)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khang Hi tự điển

K'ang Hsi Dictionary.jpg

Khang Hy tự điển ấn bản 2005

K'ang Hsi Dict.png

Tên tiếng Trung
Tiếng Trung: 康熙字典
Tên Nhật Bản
Hán tự: 康熙字典
Hiragana: こうきじてん
Zhongwen.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Trung Hoa. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Trung Quốc.

Khang Hy tự điển (Hán văn giản thể: 康熙字典; Hán văn phồn thể:康熙字典; bính âm: Kangxi zidian), là một bộ từ điển chữ Hán có tầm ảnh hưởng lớn, do một nhóm học giả đời Hoàng đế Khang Hy ((4 tháng 5 năm 1654 - 20 tháng 12 năm 1722), tên thật là Ái Tân Giác La Huyền Việp (爱新觉罗玄燁), là con thứ ba của Thanh Thế Tổ Thuận Trị, Hoàng đế thứ hai kể từ khi nhà Thanh tiến vào quan ải, ở ngôi từ năm 1662 đến năm 1722, miếu hiệu là Thanh Thánh Tổ (朝聖祖), niên hiệu là Khang Hy (康熙). Tiểu sử của ông được ghi tại Thanh sử cảo, quyển 4 "Thánh Tổ bản kỷ" và Thanh thông giám, quyển 41-45 "Thánh Tổ Khang Hy") đứng đầu là Trương Ngọc Thư (张玉书) và Trần Đình Kính (陈廷敬) biên toản. Công tác thu thập và thu công được bắt đầu vào năm Hoàng đế Khang Hy thứ 19 (1710, cũng chính là năm F.P. De La Croix đặt lời đề tựa cho cuốn Ngàn lẻ một đêm huyền thoại), hoàn thành năm Khang Hy thứ 55 (1716). Ròng rã qua sáu năm vất vả, một cuốn từ điển đồ sộ đã ra đời mang tên "Khang Hy tự điển", phân làm 12 tập theo Thập nhị địa chi, trong đó mỗi tập lại được chia ra ba quyển Thượng, Trung, Hạ, dựa vào vận mẫu, thanh điệu và âm tiết mà phân loại, cả thảy có 47.035 chữ. Cuốn từ điển này được coi là một trong những công cụ tra cứu đắc dụng trong việc nghiên cứu Hán Nôm nói riêng, Hanja, Kanji, Hán tự hay Hán học nói chung của các học giả quan tâm đến lãnh vực này trên toàn thế giới.

Ngoài hai nhân vật chủ biên là Trương Ngọc Thư và Trần Đình Kính, hậu nhân chúng ta khi nhắc đến công biên toản cuốn từ điển đồ sộ này còn phải nhớ đến bốn tên tuổi tiêu biểu sau: Sử Quỳ, Ngô Thế Đạo, Mại Kinh, Lưu Nham, Chu Khởi Vị, Tưởng Đình Tích, Uông Long, Lệ Đình Nghi, Trương Dật Thiếu, Triệu Hùng Chiếu, Đồ Thiên Tướng, Vương Vân Cẩm, Giả Quốc Duy, Lưu Hạo, Mai Chi Hành, Trần Chương, Trần Bang Ngạn, Vương Cảnh Tằng, Lăng Thiệu Văn (史夔、吳世燾、萬經、劉巗、周起渭、蔣廷錫、汪漋、勵廷儀、張逸少、趙熊詔、涂天相、王雲錦、賈國維、劉灝、梅之珩、陳璋、陳邦彥、王景曾、淩紹雯). Riêng hai trường hợp Ngô Thế Đạo (吳世燾) và Lăng Thiệu Văn 淩紹雯 có sách chép là Trần Thế Nho (陈世儒) và Lăng Thiệu Tiêu (凌绍霄).

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Khang Hy tự điển dựa vào hai quyển sách đời nhà Minh là Tự Hối (字汇) và Chính Tự Thông (正字通), hiệu đính và bổ sung。Để làm công tác hiệu đính, ban học giả đã phải miệt mài lao động và tiến hành một cuộc gọi là "Biện nghi đính ngoa" (辨疑订讹) rất vất vả và công phu。

Theo đánh giá của giới nghiên cứu thì Khang Hy tự điển có ba ưu điểm sau:

  • Số lượng chữ thu công phong phú và đồ sộ.
  • Phân loại dựa 214 bộ thủ, có đầy đủ phiên thiết, xuất xứ, tham khảo, phân biệt rõ ràng, tiện lợi việc kiểm duyệt so sánh.
  • Chú giải kỹ lưỡng, phần nhiều đều lấy từ những nét nghĩa nguyên thủy từ cổ thư.

Các đính bản của Khang Hy tự điển [sửa | sửa mã nguồn]

Các đính bản của cuốn từ điển Khang Hy có rất nhiều, gồm Khang Hy Nội Phủ, là một loại đính bản dùng trong nội bộ triều đình, được trang sức rất đẹp đẽ và sang trọng, thường không thể thấy được ở trong dân gian. Ngoài ra trong số di cảo hiện nay người ta còn thấy những bản khắc gỗ, đá, chì và thậm chí là ảnh ấn. Ấn bản được coi là có số lượng lớn nhất và phổ biến nhất là ấn bản khắc đa cuối đời Thanh do Đồng Văn Thư Cục (Thượng Hải) ấn hành. Tính từ sau khi ra đời, cuốn từ điển này có tới 100 loại, tựu chung có thể giản thuật như sau:

a. Bản 42 quyển, còn gọi bản Vũ Anh Điện (武英殿本), chia làm 12 quyển theo địa chi, mỗi tập ba quyển Thượng, Trung, Hạ.

b. Bản 42 quyển hay còn gọi là bản Vũ Anh Điện Đạo Quang, do Vương Dẫn Chi (王引之, người đọc là Vương Thấn Chi)tu đính.

c. Bản 43 quyển, còn gọi là bản Vũ Anh Điện năm Khang Hy 55 có khảo chứng.

d. Bản Đạo Quang Điện có khảo chứng và khảo dị sửa chữa.

e. Bản Đạo Quang Điện chỉnh lý, đặc biệt có cả hai loại tự thể tân cựu.

f. Bản Khang Hy tự điển Thông Giải (康熙字典通解).

g. Bản Khang Hy giản thể của NXB Đại học sư phạm Bắc Kinh xuất bản năm 1997.

h. Bản Chú âm đối chiếu Trung Quốc Đương Án Trân tàng bản, NXB Trung Quốc Đương Án (中国档案出版社, Hồ sơ di sản Trung Quốc) xuất bản 2002.

i. Bản Khang Hy tự điển của Trung Hoa Thư cục xuất bản năm 2004.

k. Bản Khang Hy tự điển của NXB Trung Châu cổ tịch (中州古籍出版社) xuất bản năm 2006.

l. Bản Khang Hy tu đính xuất bản năm do NXB Văn hiến khoa học xã hội xuất bản (社会科学文献出版社) năm 2008.

Ấn bản điện tử của Khang Hy tự điển[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm 03 loại:

- Tự điển Khang Hy Đồng Văn Thượng Hải do Cty TNHH Kỹ thuật số Đồng Văn sáng chế, NXB Điện tử Vạn Phương - Bắc Kinh năm 2000.

- Tự điển điện tử Đài Loan Hán Trân.

- Tự điển điện tử Bắc Kinh Trung Dịch.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

- Bộ Khang Hy Tự Điển ra đời năm 1716 liệt kê 40,000 chữ, trong đó có 4000 chữ thông dụng, 2000 tên họ, và 30,000 chữ không dùng vào đâu.

- Tự Điển Khang Hy bản Hiện đại là tự điển Trung Quốc đầu tiên thu góp nhiều từ nhất, hoàn toàn nhất, quy mô lớn nhất; là tự điển Trung Quốc đầu tiên phạm vi sử dụng lớn nhất, thời gian dân chúng sử dụng lâu nhất; là tự điển Trung Quốc đầu tiên số lần in nhiều nhất, số lượng in nhiều nhất; là tự điển Trung Quốc đầu tiên duy nhất được nhà vua viết Tự mà được thành tên, là sách công cụ Trung Quốc đầu tiên dùng khái niệm khoa học "Tự Điển;" là tự điển Trung Quốc đầu tiên có mục đích thu góp từ ngữ tiếng Hán, là tự điển Trung Quốc Lớn đầu tiên giá trị sử dụng cao nhất, ảnh hưởng rộng rãi nhất. Sách gồm 4 tập, in đẹp hào hoa, tinh xảo.

Tự Điển Khang Hy bản Hiện đại khác Tự Điển Khang Hy bản cũ chủ yếu những điều sau đây:

+ Chữ thu góp hoàn thiện hơn: cách tra nghĩa sâu rộng của chữ rất dễ vì theo lối hiện đại, thêm nhiều chữ mới ngày nay, phá giới hạn lượng sử dụng cho chuyên gia.

+ Dùng chữ quy phạm: sách mới đã làm rất nhiều tu sửa. Nghe nói nhà vua đã tu sửa 2,588 chỗ, nhưng bản hiện đại đã sửa 18,000 chỗ.

+ Chú âm mới: bản hiện đại không và sẽ không dùng cách đọc cũ, mà dùng cách phiên âm ngày nay, khiến cho chuẩn xác không sai nhầm khi đọc âm của chữ. Tự Điển Khang Hy bản Hiện đại thu góp tất cả 47,035 chữ.

ISBN 7-80114-341-8/G·169, xuất bản năm 2000, nhà xuất bản Cửu Châu.