Konstanty Ildefons Gałczyński

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Konstanty Ildefons Gałczyński
Sinh 23 tháng 1 năm 1905
Warszawa, Ba Lan
Mất 6 tháng 12, 1953 (48 tuổi)
?
Công việc nhà thơ

Konstanty Ildefons Gałczyński (23 tháng 1 năm 1905 – 6 tháng 12 năm 1953) là một nhà thơ Ba Lan và là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của Ba Lan thế kỷ 20.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Konstanty Ildefons Gałczyński sinh ở Warszawa. Ông học văn học và ngôn ngữ ở Đại học Warszawa. Gałczyński bắt đầu in thơ từ năm 1923. Năm 1928 ông tham gia nhóm thơ Kwadryga. Năm 1930 ông cưới Natalia Avalov. Những năm 1939-1940 Gałczyński bị bắt vào trại giam của Đức. Năm 1946 trở về Ba Lan, ông cộng tác với các tạp chí Przekrój, Tygodnik Powszechny.

Gałczyński là tác giả của nhiều tập thơ châm biếm và thơ trữ tình rất nổi tiếng ở Ba Lan cũng như ở nước ngoài qua bản dịch. Thơ ông thể hiện tình yêu tổ quốc, quê hương, yêu lao động và nghệ thuật. Thơ ông giàu hình tượng, phong phú vần điệu và nhiều ý tưởng mới lạ, độc đáo. Ngoài sáng tác, ông còn là một dịch giả thơ nổi tiếng.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Liryka i groteska / Wybór N. Gałczyńskiej. — Warszawa: Czytelnik, 1975
  • Poezje. — Warszawa: Czytelnik, 1976
  • Dzieła, t. 1-5, [Warsz.], 1957-60

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Drawicz A. Konstanty Ildefons Całczyński. — Warszawa: Państw, zakł. wyd. szkolnich, 1972
  • Szymański W. P. Konstanty Ildefons Gałczyński. - Warszawa: PIW, 1972
  • Wyka М. Gałczyński a wzory literackie. — Warszawa: PIW, 1970

Một bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ Konstanty Ildefons Gałczyński ở Warsaw.
Tượng bán thân của nhà thơ dựng trước một bảo tàng.
 
Chuyện trò
 
- Anh yêu em như thế nào, anh hãy nói?
- Anh sẽ nói bây giờ…
- Anh nói đi.
- Anh yêu em ngày dưới mặt trời, đêm dưới nến
Yêu em khi em đội mũ, quàng khăn
Yêu em trong nhà hát, giữa ngã tư đường
Trong tím tử đinh hương, trong bạch dương, phúc bồn tử
Yêu em cả khi em đi làm, khi em ngủ
Và khi em đập quả trứng vỡ rất dễ thương
Ngay cả khi chiếc thìa nhỏ em buông.
Trong xe tắc xi, khi gần, khi xa thẳm
Và cả khi em đi bộ đến
Yêu em cả bắt đầu, cả ở cuối con đường
Khi em chải tóc bằng chiếc lược con.
Cả dưới biển, trên rừng, cả khi em khó xử
Yêu bây giờ. Yêu hôm qua, ngày mai. Cả ngày và đêm cũng thế
Và khi chim én bay về báo hiệu mùa xuân.
- Thế mùa hè anh có yêu em không?
- Cháy bừng như nắng hạ.
- Thế mùa thu mây đen khắp nơi, cây rụng lá?
- Anh yêu, ngay cả khi em đánh mất chiếc ô!
- Thế mùa đông, khi tuyết rơi bên cửa sổ trắng mờ?
- Ô! Mùa đông anh yêu em như ngọn lửa
Luôn ở trong tim em. Khi gần, khi xa cũng thế
Dù ở bên ngoài cửa sổ tuyết trắng rơi
Còn quạ đen bay dưới tuyết, giữa trời.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
 
Rozmowa lirycna
 
- Powiedz mi jak mnie kochasz.
- Powiem.
- Więc?
- Kocham cie w słońcu. I przy blasku świec.
Kocham cię w kapeluszu i w berecie.
W wielkim wietrze na szosie, i na koncercie.
W bzach i w brzozach, i w malinach, i w klonach.
I gdy śpisz. I gdy pracujesz skupiona.
I gdy jajko roztłukujesz ładnie -
nawet wtedy, gdy ci łyżka spadnie.
W taksówce. I w samochodzie. Bez wyjątku.
I na końcu ulicy. I na początku.
I gdy włosy grzebieniem rozdzielisz.
W niebezpieczeństwie. I na karuzeli.
W morzu. W górach. W kaloszach. I boso.
Dzisiaj. Wczoraj. I jutro. Dniem i nocą.
I wiosną, kiedy jaskółka przylata.
- A latem jak mnie kochasz?
- Jak treść lata.
- A jesienią, gdy chmurki i humorki?
- Nawet wtedy, gdy gubisz parasolki.
- A gdy zima posrebrzy ramy okien?
- Zimą kocham cię jak wesoły ogień.
Blisko przy twoim sercu. Koło niego.
A za oknami śnieg. Wrony na śniegu.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]