Lâm Thanh Hà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lâm Thanh Hà
Brigitte Lin
Hán tự 林青霞
Phồn thể 林青霞
Giản thể 林青霞
Bính âm Lín Qīngxiá
Việt bính lam4 cing1 haa4
Tổ tiên Yên Đài, Sơn Đông
Nguyên quán Đài Loan
Nghề nghiệp Diễn viên
Năm hoạt động 1973 - 1994
Hôn nhân Hình Lý Nguyên
(29/6, 1994 - nay)
Quan hệ với Tần Hán
Con cái Hình Ái Lâm
Hình Ngôn Ái

Lâm Thanh Hà (chữ Hán: 林青霞; bính âm: Lín Qīngxiá, tiếng Anh: Brigitte Lin Ching Hsia), là một nữ diễn viên điện ảnh Hồng Kông.

Cô được coi là một trong những nữ diễn viên hàng đầu của điện ảnh Hồng Kông trong suốt thập niên 1980.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu sử và khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Thanh Hà sinh ngày 3 tháng 11 năm 1954 tại Đài Bắc, Đài Loan. Trong gia đình có cha làm xưởng may, mẹ ở nhà làm nội trợ, Lâm Thanh Hà là con thứ hai còn có anh cả và cô em gái.

Khi cô chuẩn bị vào trung học, cả gia đình chuyển nhà từ một quận phía nam Gia Nghĩa lên Đài Bắc. Hằng ngày ngoài giờ học, Lâm Thanh Hà còn cùng bạn bè đi xem phim và từ đó cô bắt đầu mơ ước làm diễn viên hoặc một cô giáo mẫu giáo để được vui chơi với trẻ thơ.

Vào năm 1972 khi mới 17 tuổi, Lâm Thanh Hà được đạo diễn Tống Tân Thọ phát hiện và mời đến để ký hợp đồng đóng phim Song Ngoại, chuyển thể điện ảnh từ tiểu thuyết cùng tên của Quỳnh Dao.

Thập niên 70, Lâm Thanh Hà xuất hiện trong rất nhiều những bộ phim tình cảm của Đài Loan, và những bộ phim này hầu hết đều dựa vào những cuốn tiểu thuyết của Quỳnh Dao.

Sự nổi tiếng trên màn bạc của Lâm Thanh Hà đi liền với những rắc rối của cô trong đời sống riêng. Cô vướng vào mối quan hệ tay ba với hai ngôi sao Tần Hán, Tần Tường Lâm trong đó Tần Hán lúc này đã là người có gia đình và hai con. Vì những tai tiếng này mà công chúng Đài Loan, vốn rất khó tính với hình tượng của các ngôi sao, bắt đầu lạnh nhạt với các bộ phim của Lâm và sự nghiệp của cô gặp nguy cơ thất bại.

Diễn viên hàng đầu Hồng Kông[sửa | sửa mã nguồn]

Dấu tay của Lâm Thanh Hà trên Đại lộ Ngôi sao, Hồng Kông

Đầu thập niên 1980, để tránh những chỉ trích từ dư luận Đài Loan, Lâm Thanh Hà chuyển sang đóng phim ở Hồng Kông. Tại đây cô đã gặp Từ Khắc, đạo diễn và nhà sản xuất đang lên của điện ảnh nước này, và được ông chọn vào vai nữ chính cho bộ phim kiếm hiệp được trông đợi Thục Sơn (蜀山, 1983). Bộ phim sau khi ra mắt đã rất thành công về doanh thu và được coi là tác phẩm cách mạng về mặt kĩ xảo và hình ảnh cho dòng phim kiếm hiệp Hồng Kông, còn vai diễn của Lâm Thanh Hà được đánh giá rất cao, cô được đề cử giải Vai nữ chính xuất sắc trong Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 3 (1984) với vai diễn này.

Năm 1985 Lâm Thanh Hà được Thành Long mời vào vai chính trong bộ phim mới của anh, Câu chuyện cảnh sát (警察故事). Được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Thành Long trong giai đoạn ở Hồng Kông, Câu chuyện cảnh sát đã giành được giải Phim hay nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 5 còn Lâm Thanh Hà cũng có đề cử giải Vai nữ chính thứ hai cho vai nhân chứng được viên cảnh sát Thành Long bảo vệ. Không chỉ thành công với các vai diễn trong phim võ thuật, hành động, Lâm Thanh Hà cũng chứng tỏ mình hoàn toàn có khả năng diễn tốt những vai nội tâm phức tạp với thành công của bộ phim Đao mã đán (刀馬旦, 1986), một tác phẩm cũng do Từ Khắc đạo diễn.

Đỉnh cao trong sự nghiệp của Lâm Thanh Hà ở Hồng Kông là giai đoạn đầu thập niên 1990. Cô liên tục có các vai diễn thành công trong các phim Tiếu ngạo giang hồ chi Đông Phương Bất Bại (笑傲江湖之東方不敗, 1991), Tân Long Môn khách sạn (新龍門客棧, 1992), Lộc đỉnh kí (鹿鼎記, 1992), Bạch phát ma nữ truyện (白髮魔女傳, 1993). Đặc biệt vai diễn Đông Phương Bất Bại của Lâm trong Tiếu ngạo giang hồ chi Đông Phương Bất Bại được nhớ đến vì đạo diễn Trình Tiểu Đông đã dám chọn một nữ diễn viên xinh đẹp hàng đầu Hồng Kông vào một vai đàn ông, và Lâm Thanh Hà đã không phụ sự tin tưởng của ông khi diễn rất đạt không chỉ những đoạn hành động mà cả những đoạn bộ lộ tình cảm của Đông Phương Bất Bại với Lệnh Hồ Xung (do Lý Liên Kiệt thủ vai). Sau nhiều vai diễn trong các phim hành động và hài, Lâm tham gia hai bộ phim tâm lí của đạo diễn Vương Gia Vệ, Đông Tà Tây Độc (東邪西毒, 1994) và Trùng Khánh Sâm Lâm (重慶森林, 1995). Cả hai vai Mộ Dung Yên (trong Đông Tà Tây Độc) và Người đàn bà không tên (trong Trùng Khánh Sâm Lâm) của Lâm Thanh Hà đều được đánh giá cao. Đây là giai đoạn Lâm Thanh Hà được coi là ngôi sao nữ hàng đầu của Hồng Kông và là diễn viên yêu thích của nhiều đạo diễn, Từ Khắc đánh giá cô là người không thể thay thế được[1] còn Chu Tinh Trì khi được phỏng vấn về nữ diễn viên anh yêu thích đã lập tức trả lời rằng đó là Lâm Thanh Hà[2]. Tuy vậy Lâm Thanh Hà không có duyên với các giải thưởng điện ảnh, cô chỉ một lần duy nhất đoạt giải Vai nữ chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Kim Mã Đài Loan năm 1990 cho phim Cổn cổn hồng trần(滾滾紅塵).

Với đỉnh cao của sự nổi tiếng, có thể nói rằng Lâm Thanh Hà là một diễn viên được săn đón nhiều nhất trong nền công nghiệp điện ảnh Hoa Ngữ. Cô đã đóng hơn 100 bộ phim.

Sau hai vai diễn trong phim của Vương Gia Vệ, Lâm Thanh Hà kết hôn với thương gia nổi tiếng họ Hình và đột ngột từ giã điện ảnh. Kể từ năm 1994 cô không còn xuất hiện trên bất cứ bộ phim nào mặc dù đã được nhiều đạo diễn và người hâm mộ đề nghị[3].

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Thanh Hà có mối quan hệ với nam diễn viên Tần Hán kéo dài 19 năm, kể từ lúc anh còn đang có gia đình hạnh phúc cho đến khi đã ly hôn, tuy vậy hai người chưa bao giờ tiến đến hôn nhân[3]. Cô từng đính hôn với Tần Tường Lâm vào năm 1980, sau đó hủy bỏ hôn ước.

Cuối cùng năm 1994 cô kết hôn với Hình Lý Nguyên, một doanh nhân, chủ tịch của tập đoàn Esprit Holdings (hãng giữ bản quyền nhãn hiệu thời trang ESPRIT nổi tiếng). Năm 1997 ở tuổi 43 cô mang thai con gái đầu lòng và sinh con gái thứ hai vào năm 2001.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

(Danh sách không đầy đủ)

Năm phát hành Tựa Đề Phim Giải Thưởng
1973 Song ngoại (窗外) (Outside the Window) Vai diễn đột phá
1974 The River of Cloudy
Ghost of the Mirror
Girl Friend
The House of Love
Long Way From Home
Love Love Love
Moon River
1975 He Loved Once Too Many
Bên dòng nước (The Unforgettable Character) (在水一方)
Evergreen Tree
Hot Wave
The Life God
Love Story of Pian Pian
Misty Drizzle
Run Lover Run
The Unforgettable Character
1976 Autumn Love Song
The Beauty With Two Faces
The Chasing Game
Come Fly With Me
Different Love
Forever My Love
Love By Post
My Funny Intern
Tomorrow I'm 20
Yesterday, Today and Tomorrow
1977 Tám trăm tráng sĩ (Eight Hundred Heroes) Liên hoan phim Châu Á - Thái Bình Dương:
Vai nữ chính xuất sắc nhất (Đoạt giải)
Em là áng mây (我是一片云) (Cloud of Romance)
Hồng Lâu Mộng (The Dream of the Red Chamber)
The Love Affair of Rainbow
My Sweet Love
Orchid In The Rain
There's No Place Like Home
1978 Trăng ảo chim huyền (The Misty Moon) (月朦胧鸟朦胧)
Everywhere Birds Are Singing
Love of the White Snake
Love's Many Faces
Morning Fog
Tình yêu trong sáng (Love Under a Rosy Sky) (彩霞滿天)
1979 Hạt đậu tương tư (Love Seed) (一顆鶢豆)
The Choice of Love
An Unforgettable Day
Wild Goose on the Wing
1980 Cúc vạn thọ (The Marigolds) (金盏花)
Magnificent 72 Giải thưởng Kim Mã:

Nữ diễn viên hay nhất (Đề cử)

Off to Success
Poor Chasers
The Story of Green House
1981 Love Massacre
Women Soldiers
1982 Fantasy Mission Force
Burn Phoenix Burn
Demon Fighter
Lily Under The Muzzle
Pink Force Commando
1983 Zu Warriors from the Magic Mountain Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông:

Nữ diễn viên hay nhất (Đề cử)

Demon Fighter
Gián điệp Dạ Lý Hương (All the Wrong Spies)
Black and White
Tình Ám Ảnh (By Love Obsessed)
Fantasy Mission Force
Golden Queen's Commandos
1984 Black and White
Hoàng Phi Hồng: Thiết Kê Đấu Ngô Công (Last Hero In China)
The Other Side of Gentleman
Phoenix The Raider
1985 Câu chuyện cảnh sát Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông:

Nữ diễn viên hay nhất (Đề cử)

Seven Foxes
1986 Đao Mã Đán (Peking Opera Blues)
Dream Lovers
True Colours
1987 Hoạch Tài 30 Triệu (The Thirty Million Dollar Rush)
Flag of Honor
Lady in Black
1988 Starry is the Night (今夜星光燦爛)
1989 Kinh Hồn Ký (驚魂記) (Web Of Deception)
1990 Cổn cổn hồng trần (滚滚红尘) Giải Kim Mã:
Vai nữ chính xuất sắc nhất (Đoạt giải)
1991 Tiếu ngạo giang hồ: Đông Phương Bất Bại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông:

Nữ diễn viên hay nhất (Đề cử)

1992 Tân Long Môn Khách Sạn (New Dragon Gate Inn)
Tân Tuyệt Đại Song Kiều (Handsome Siblings) Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông:

Nữ diễn viên hay nhất (Đề cử)

Lộc Đỉnh ký
Lộc Đỉnh kí 2: Thần long giáo (Royal Tramp II)
1992 The Peach Blossom Land
1993 Tiếu ngạo giang hồ: Phong Vân Tái Khởi (Swordsman III)
Thủ Đoạn Cua Trai (Boys Are Easy)
Hắc Báo Thiên Hạ (The Black Panther Warriors)
Lục Chỉ Cầm Ma (Deadful Melody)
Bạch Phát Ma Nữ Truyền (The Bride with White Hair)
Bạch Phát Ma Nữ Truyền 2 (The Bride with White Hair 2)
Đông Thành Tây Tựu (The Eagle Shooting Heroes)
1994 Đông Tà Tây Độc
Trùng Khánh Sâm Lâm
Hỏa Vân Tà Thần (Fire Dragon)
Thiên Long Bát Bộ (The Dragon Chronicles - The Maidens)
Giang Hồ Tam Hiệp (The Three Swordsmen)
1998 Mĩ thiếu niên chi luyến (Bishonen)
2001 Du Viên Kinh Mộng (Peony Pavilion)
遊園驚夢

[4] [5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 10 mỹ nhân của đạo diễn Từ Khắc - Vnn.vn
  2. ^ The Last Star of The East: Brigitte Lin Ching Hsia and Her Films - Giới thiệu sách trên Dighkmovies.com
  3. ^ a ă Lâm Thanh Hà trên Hong Kong Cinemagic
  4. ^ “Brigitte Lin”. imdb.com. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  5. ^ “Brigitte Lin”. chinesemov.com. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Akiko Tesuya, The Last Star of The East: Brigitte Lin Ching Hsia and Her Films, ISBN 0-9764871-2-8

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]