Lò sát sinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhân viên y tế Hoa Kỳ kiểm tra thịt lợn trong lò sát sinh

Lò sát sinh còn gọi là lò thịt là nơi gia súc, thường là mục súc bị mổ thịt để làm thực phẩm.

Số liệu từ lò sát sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 45-50% trọng lượng xác thịt của gia súc nhập vào lò có thể róc ra dùng làm thịt. Khoảng 15% là phần không dùng được, phải bỏ đi. Còn lại là 40-45% gồm những bộ phận gia súc có thể chế biến dùng làm chế phẩm như xà bông, nến, keo dán. Riêng ở Hoa Kỳ hằng năm có khoảng chín tỷ con vật bị mổ thịt[1] (gồm 150,4 triệu con , cừu, heo, và 8,9 tỷ con , gà tâyvịt trong 5.700 lò sát sinh và xưởng chế biến);[2] Chỉ trong năm 2007 dân Hoa Kỳ tiêu thụ 28,1 tỷ cân Anh thịt bò.[3] So với Canada thì 650 triệu gia súc bị làm thịt mỗi năm.[4] Khối Liên Âu ghi nhận 300 triệu , cừu, và heo cùng bốn tỷ con gà.[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lò sát sinh là khởi điểm khi thịt gia súc chuyển từ môi trường chăn nuôi mà nhập vào thị trường tiêu thụ. Xã hội nông thôn thường không có nhu cầu có lò sát sinh. Chỉ khi xã hội con người tập trung đông đúc và người dân không thể tự túc về mặt thực phẩm thịt thì lò sát sinh mới xuất hiện để cung ứng lượng thịt quy mô.

Công thức mổ thịt[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân viên xẻ thịt bằng rìu

Việc làm thịt gia súc trong lò sát sinh có năm khâu:

  1. Làm con thú bất tỉnh
  2. Thọc tiết
  3. Lột da (bò, dê, cừu) hoặc làm trụi lông (heo)
  4. Mổ bụng, cắt nội tạng
  5. Chặt đôi hoặc chặt tư

Ở Tây phương gia súc không bị thọc tiết ngay mà thường dùng điện giật (300 volt 2 ampe) để làm bất tỉnh.[6] Loài heo thì có nơi dùng thán khí để gây mê trước khi thọc tiết. Tiết chảy ra bằng cách treo con thú bằng chân sau dốc ngược xác. Sau đó họ chặt bỏ bốn chân, cắt thủ và bỏ bộ lòng trước khi xác con vật bị lột da. Nội tạng như gan, phổi, tim sẽ được đem giảo nghiệm phòng hờ con vật có bệnh. Cơ quan y tế thì có nhân viên đến lò thịt kiểm tra.

Xác con vật còn có thể được xử lý thêm bằng hơi nước, nước nóng và a xít hữu cơ trước khi bỏ tủ lạnh hoặc tủ đá để hạn chế vi khuẩn sinh sôi làm hư thối thịt. Ở dạng lạnh thợ cắt thịt mới xẻ xác thành những mảng cơ bản. Xác thịt bò thì được xẻ đôi rồi xẻ tư. Thịt heo thì thường chỉ xẻ đôi trong khi thịt cừu hoặc thì để nguyên con.

Thịt vụn còn lại sẽ được mót và có thể dùng làm thịt cho con người hoặc súc vật. Phần không dùng được như xương, mỡ được chuyển sang lò nấu, chắt lấy dầu có thể dùng thắp đèn và các công dụng kỹ nghệ. Phần thịt thì chở đến các điểm bán sỉ và phân phối đến chợ búa cho người tiêu thụ mua.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "NASS - National Agricultural Statistic Service", United States Department of Agriculture
  2. ^ Williams, Erin E. and DeMello, Margo. Why Animals Matter. Prometheus Books, 2007, p. 73.
  3. ^ "U.S. Beef and Cattle Industry", United States Department of Agriculture, cited in Torres, Bob. Making a Killing. AK Press, 2007, p. 45.
  4. ^ "Slaughterhouses", Global Action Network, accessed March 18, 2008.
  5. ^ Stevenson, Peter. "Animal welfare problems in UK slaughterhouses", Compassion in World Farming, July 2001.
  6. ^ “Guidelines for the Slaughter of Animals”.  USDA

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Wikisource-logo.svg
Wikisource có văn bản gốc từ 1911 Encyclopædia Britannica về: