MK 19

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mk 19
MK19-02.jpg
Loại Súng phóng lựu tự động
Nguồn gốc  Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Trang bị 1968 – Nay
Quốc gia sử dụng
Sử dụng trong
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Naval Ordnance Center - Louisville
Năm thiết kế Những năm 1960
Nhà sản xuất Saco Defense Industries (hiện tại là chi nhánh của General Dynamics Armament and Technical Products), Combined Service Forces
Giai đoạn sản xuất 1968 – Nay
Các biến thể Mk 19 Mod 0, Mk 19 Mod 1, Mk 19 Mod 2, Mk 19 Mod 3
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 35,3 kg (rỗng và không có bệ chống)
Chiều dài 1.090 mm
Cỡ nòng  413 mm
Chiều rộng 340 mm

Đạn 40×53mm
Cơ cấu hoạt động Nạp đạn bằng phản lực bắn
Tốc độ bắn 325–375 viên/phút
Tầm bắn hiệu quả 1.400 m
Tầm bắn xa nhất 2.023 m
Cơ cấu nạp Dây đạn
Ngắm bắn Điểm ruồi và thước ngắm

MK 19 (Mark 19) là loại súng phóng lựu tự động được lực lượng hải quân Hoa Kỳ tiến hành phát triển từ năm 1966 sau khi tham gia vào chiến tranh Việt Nam một thời gian và nó cũng được nhìn thấy sử dụng lần đầu tiên trong cuộc chiến này. Hiện tại loại súng này vẫn còn được sử dụng.

Phát triển và sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 1962 thì một số ít lực lượng Hoa Kỳ chiến đấu tại Việt Nam đã được trang bị sử dụng biến thể có thể bắn nhiều lần của súng phóng lựu M79 vốn chỉ bắn phát một. Cùng với những khẩu súng đó thì khẩu MK 18 có khả năng bắn dây đạn với cách nạp đạn bằng tay quay là đáng chú ý nhất với hỏa lực tầm ngắn khá cao thường dùng để gắn trên các phương tiện đi trên sông hay cố thủ các vị trí ở các bãi biển. Tuy nhiên các loại vũ khí này đều có tầm bắn rất ngắn và hải quân Hoa Kỳ đã quyết định phá triển một loại súng mới có khả năng bắn loại lựu đạn theo chuẩn 40x53mm một cách tự động và nhanh chóng.

Việc phát triển MK 19 bắt đầu vào năm 1966 và đến năm 1967 thì các nguyên mẫu đã được đưa vào thử nghiệm. Mẫu MK 19 Mod 0 đã được đưa vào sử dụng từ đầu năm 1968, chúng được gắn trên những phương tiện đi sông và trên trực thăng chiến đấu tại chiến trường Việt Nam. Đến năm 1971 mẫu MK 19 Mod 1 đã được phát triển để khắc phục các trục trặc mà mẫu trước đó bị mắc phải khi chiến đấu. Đến năm 1974 thì mẫu MK 19 Mod 2 được phát triển để thu gọn hình dáng của khẩu súng nhưng mẫu này không qua được giai đoạn thử nghiệm. Đến năm 1976 thì mẫu MK 19 Mod 3 được phát triển để tăng độ bền của khẩu súng và việc phát triển kết thúc năm 1981. Tới năm 2000 thì khoảng 25.000 khẩu MK 19 Mod 3 đã được chế tạo hầu hết cho lực lượng quân đội Hoa Kỳ và một số được bán cho các nước khác.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

MK 19 sử dụng hệ thống làm mát bằng không khí, nạp đạn bằng dây đạn, sử dụng cơ chế nạp đạn bằng phản lực bắn và bắn với thoi đạn mở. Loại súng này sẽ khai hỏa ngay khi thoi nạp đạn đã đẩy một phần viên đạn vào khoang chứa đạn nhưng vẫn chưa kết thúc chu kỳ đẩy lên để giảm độ giật vì lực đẩy của thoi nạp đạn sẽ vô hiệu hóa một phần độ giật của viên đạn được phóng đi. Khe nạp đạn nằm ở bên trái của súng và khi bắn vỏ đạn sẽ được nhả ra ở phía bên dưới của súng.

Dây đạn thường đặt trong thùng đạn với số lượng là 32 hay 48 trái. Nòng súng được tích hợp bộ phận chống chớp sáng. Loại lựu đạn 40×53mm mà súng sử dụng có khả năng tiêu điệt mục tiêu trong vòng 5 m và gây thương tích trog vàong 15 mm cũng như có thể dùng để công phá các phương tiên cơ giới bọc giáp nhẹ. Súng có thể dùng để gắn trên các phương tiện cơ giới khác nhau hoặc trên bệ chống ba chân để hỗ trợ bộ binh với một nhóm hỗ trợ tác chiến giúp di chuyển vì khẩu súng khá nặng với 35,3 kg trọng lượng rỗng cùng 20 kg bệ chống và thêm 20 kg cho hộp đạn đầy.

Hệ thống nhắm cơ bản của súng là điểm ruồi và thước ngắm nhưng có thể gắn thêm các hệ thống nhắm khác để hỗ trợ tác chiến và phù hợp với môi trường.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Mk 19 tại Wikimedia Commons