Nghĩa trang Bình An

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nghĩa trang Nhân dân Bình An
(Nghĩa trang Quân đội)
Thông tin
Thành lập: 1967
Quốc gia: Việt Nam
Địa điểm: Phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương
Tọa độ: 10°53′21″B 106°48′37″Đ / 10,889282°B 106,810327°Đ / 10.889282; 106.810327 (Nghĩa trang Bình An)Tọa độ: 10°53′21″B 106°48′37″Đ / 10,889282°B 106,810327°Đ / 10.889282; 106.810327 (Nghĩa trang Bình An)
Kiểu: Nghĩa trang công
Diện tích: 58 ha

Nghĩa trang Nhân dân Bình Annghĩa trang nằm tại phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Việt Nam.

Trước sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, đây là Nghĩa trang Quân đội, còn được gọi là Nghĩa trang Biên Hòa, nơi chôn cất cả chục ngàn binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Lịch sử trước 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa trang được khởi công vào tháng 11 năm 1967,[1] mô phỏng hình con ong, do kiến trúc sư Lê Văn Mậu phụ trách thi công[1] đã vào giai đoạn 2, thời gian sáu năm, chi phí 100 triệu đồng tiền Việt Nam Cộng hòa (thời giá năm 1973).[2] Nghĩa trang tọa lạc trên một đồi thấp diện tích 125 ha, được phân chia thành tám khu từ A đến I.[1] Mặt tiền nghĩa trang có một bức tượng có tên gọi là Thương tiếc cao 5 m và được đặt trên bệ cao 3 m, do nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu sáng tạo, khắc họa hình ảnh một quân nhân Việt Nam Cộng hòa cầm súng ngồi canh gác, được dựng vào năm 1966.[2] Vào trong nghĩa trang còn có đền Tử sĩ được xây trên một ngọn đồi thấp, trước đền có cổng tam quan. Ở giữa nghĩa trang là một tháp xi măng được gọi là Nghĩa Dũng đài cao 43 m.[1]

Theo quy hoạch, nghĩa trang có sức chứa 30.000 mộ. Cao điểm vào Tết Mậu Thân 1968Mùa hè đỏ lửa 1972, nghĩa trang tiếp nhận trên 10.000 chiến sĩ trận vong. Tính đến năm 1975, nghĩa trang là nơi chôn cất của 18.318 lính và sĩ quan, chiếm 1/3 diện tích nghĩa trang.[1] Bên cạnh tiếp nhận các quân nhân tử trận, nghĩa trang còn là nơi an táng của thành viên của ba nhánh quyền lực nhà nước Việt Nam Cộng hòa (lập pháp, hành pháptư pháp).[2]

Sau ngày Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, nghĩa trang này về tay Bộ Quốc phòng Việt Nam, Quân khu 7.[3]

Lịch sử sau 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Bia đá dựng ở Westminster, California với hình pho tượng Thương tiếc cũ ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa; tượng nay không còn nữa.

Xuống cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ lâu khu nghĩa trang không được trùng tu vì là khu vực quân sự "nhạy cảm". Chính quyền cấm không một ai được vào thăm mộ.[4] Trong một miêu tả trước đây, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết: "Những tượng đài đổ vỡ, đường đi chỉ là đất với sỏi... Bên ngoài nghĩa trang cũng không khá hơn, cửa tiệm và nhà dân lấn đất nghĩa trang, cột đá và cầu thang trước đây là lối đi vào nghĩa trang thì nay bị cây cối, dây leo quấn hoàn toàn". Trước năm 2006, 12.000 mộ bị mất nắp xi măng.[2] Tượng Thương tiếc bị kéo đổ sau 1975. Nghĩa Dũng đài bị cắt cụt một đoạn.

Dân sự hóa và sửa chữa[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa từ lâu đã là tâm điểm khuyến nghị của người Việt ở hải ngoại vì họ cho rằng nhà cầm quyền Việt Nam phải tu sửa nơi chôn cất của binh sĩ chế độ cũ trước khi hòa hợp, hòa giải dân tộc.[3] Ngày 27 tháng 11 năm 2006, không lâu sau khi nhậm chức thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định 1568/QĐ-TTg "đồng ý chuyển mục đích sử dụng 58 ha đất khu nghĩa địa Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương do Quân khu 7, Bộ Quốc phòng quản lí sang sử dụng vào mục đích dân sự để phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương" và "chỉ đạo việc quản lí khu nghĩa địa Bình An bình thường như các nghĩa địa khác theo quy định của pháp luật."[5]. Như vậy, chỉ có 1/3 diện tích nghĩa trang nơi có mộ được bàn giao, còn diện tích đất tuy thuộc nghĩa trang song chưa có mộ thì Việt Nam đã xây những công trình khác như trường dạy nghề.[1]

Năm 2007, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương bày tỏ rằng tỉnh "ủng hộ việc bà con tiến hành chỉnh trang, sửa sang lại những phần mộ ở đây để có một nghĩa trang nhân dân đẹp đẽ."[6]

Từ đầu năm 2007, Sáng hội Việt-Mỹ (Vietnamese American Foundation - VAF) đã xây bàn bằng đá ở khu G7, được sử dụng làm chỗ thắp hương và để hoa quả cúng. Hiện nay tất cả các khu đều có bàn đá mà theo Nguyễn Đạc Thành - chủ tịch VAF - thì các bàn này là do chính quyền tỉnh Bình Dương xây. Nghĩa Dũng đài cũng được trùng tu như quét sơn, làm lại bằng gạch, trồng cây cảnh và hoa,[7] ở phía trước có một bệ thắp hương bằng đá đen. Theo Nguyễn Quang Hạnh - chủ tịch Hội Nạng Gỗ ở Pháp - thì phía ông đã sửa sang, đắp đất lại, dọn cỏ, dựng lại những bia gãy đổ, quét vôi lại cho những mộ xi măng được 2.642 mộ và xây mới 382 mộ.[1] Chính phủ Việt Nam cho phép thân nhân tử sĩ được tự do trùng tu phần mộ. Trong số gần 20.000 ngôi mộ trước năm 1975 thì nay chỉ còn khoảng 10.000, phân nửa đã mất bia. Khoảng 2.000 bộ hài cốt đã được thân nhân cải táng dời đi nơi khác.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ “Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa ngày đó, bây giờ”. Đài Á châu Tự do. 23 tháng 4 năm 2013. 
  2. ^ a ă â b “Thanh minh ở Nghĩa trang Bình An”. Báo Tiền Phong. 30 tháng 4 năm 2014. 
  3. ^ a ă “Dân sự hóa nghĩa trang Biên Hòa”. BBC Tiếng Việt. 15 tháng 1, 2007. Truy cập 15 tháng 1, 2007. 
  4. ^ “Dự án trùng tu Nghĩa trang Biên Hòa”. RFI Tiếng Việt. 30 tháng 4, 2014. Truy cập 4 tháng 5, 2014. 
  5. ^ “Quyết định 1568/QĐ-TTg về việc bàn giao đất khu vực Nghĩa địa Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương”. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam. 27 tháng 11 năm 2006. Truy cập 4 tháng 5 năm 2014. 
  6. ^ “Công viên và nghĩa trang nhân dân”. Báo Thanh Niên. 13 tháng 8 năm 2007. 
  7. ^ a ă “Dự án trùng tu Nghĩa trang Biên Hòa”. Đài phát thanh Quốc tế Pháp. 30 tháng 4 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]