Nhóc Maruko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nihongo.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì kanjikana.
Chibi Maruko-chan
Chibi Maruko-chan vol 1 cover.jpg
ちびまる子ちゃん
Thể loại truyện ngắn nhiều tập
Manga
Tác giả Momoko Sakura
Nhà xuất bản Shueisha
Đối tượng Shōjo
Tạp chí Ribon
Phát hành tháng 8 năm 1986tháng 4 năm 2009
Số tập 16
Anime
Đạo diễn Yumiko Suda
Tsutomu Shibayama
Hãng phim Nippon Animation
Phát sóng 7 thắng 1 năm 199027 tháng 9 năm 1992
Số tập 142
Anime
Chibi Maruko-chan: My Favorite Song
Phát sóng 19 tháng 12 năm 1992
Thời lượng / tập 93 phút
TV anime
Hãng phim Nippon Animation
Kênh Fuji TV, Animax
Phát sóng 8 tháng 1 năm 1995 – nay
Số tập 757 (danh sách tập)
Anime
Chibi Maruko-chan (live-action special)
Phát sóng 18 tháng 4 năm 2006, 19 tháng 4 năm 2007 – nay
Số tập 3
Anime
Marumaru Maruko-chan
Phát sóng 19 tháng 4 năm 200728 tháng 2 năm 2008
Số tập 3
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

Chibi Maruko-chan (ちびまる子ちゃん?) là một loạt shōjo manga của nữ tác giả Momoko Sakura, sau đó được chuyển thể sang anime TV bởi hãng hoạt hình Nippon Animation, phát sóng trên Fuji TV từ 7 tháng 1 năm 1990 đến 27 tháng 9 năm 1992. Tác phẩm miêu tả cuộc sống đơn giản, thường ngày của cô bé nhỏ có tên là Maruko và gia đình của cô tại ngoại thành Nhật Bản giữa những năm 1970. Bối cảnh câu chuyện diễn ra tại thành phố Shimizu, ngày nay là một phần của thành phố Shizuoka, cũng là quê hương của tác giả.

Tác phẩm đã kéo theo sự ra đời của hàng loạt trò chơi điện tử, phim hoạt hình, các sản phẩm thương mại chuyển thể, cùng bộ anime TV được chiếu từ năm 1995 đến nay. Phong cách và đề tài của Chibi Maruko-chan đôi lúc được so sánh với tác phẩm truyện tranh kinh điển Sazae-san. Năm 1989, tác phẩm manga đã nhận được giải thưởng manga của nhà xuất bản Kodansha dành cho thể loại shōjo.[1] Tính đến năm 2006, riêng các tập manga đã bán ra tại Nhật là 31 triệu bản, đưa bộ truyện lên vị trí thứ năm trong danh sách shōjo manga bán chạy nhất.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hahn, Joel. “Kodansha Manga Awards”. Comic Book Awards Almanac. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009. 
  2. ^ “Historic Shōjo Manga Circulation Numbers”. ComiPress. 24 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]