Nikolay Stepanovich Gumilyov (tiếng Nga: Николай Степанович Гумилёв) (15/4/1886 – 8/1921) là nhà thơ Nga thế kỉ bạc, người sáng lập trường phái văn học Đỉnh cao.
Tiểu sử [sửa]
Nicolai Gumilyov sinh ở Kronstadt, là con trai của bác sĩ Stepan Yakovlevich Gumilev và Anna Ivanovna L'vova. Thuở nhỏ sống ở Hoàng thôn, học ở trường gymnazy do nhà thơ nổi tiếng Innokenty Annensky làm hiệu trưởng. Học xong trường gymnazy, Nicolai Gumilyov học Đại học Saint Petersburg và Đại học Sorbonne. Năm 1902 in bài thơ đầu tiên ở một tờ báo. Năm 1905 tập thơ đầu tiên Con đường của những nhà chinh phục (Путь конквистадоров). Từ năm 1907 đi du lịch sang các nước châu Âu nhiều lần. Năm 1908 in tập thơ Những bông hoa lãng mạn (Романтические цветы).
Năm 1910 Nicolai Gumilyov và Anna Akhmatova làm đám cưới, hai năm sau sinh con trai Lev Gumilyov – sau này là một nhà khoa học nổi tiếng của Nga. Năm 1911 thành lập phái Đỉnh cao (акмеизм) cùng với Anna Akhmatova và Osip Mandelstam. Năm 1912 in tập thơ Bầu trời xứ lạ (Чужое небо). Từ năm 1914 đến 1918 tham gia quân đội. Năm 1918 chia tay với Anna Akhmatova, năm 1919 cưới Anna Engelgardt.
Năm 1921 Nicolai Gumilyov in hai tập thơ lấy cảm hứng từ những chuyến đi châu Phi, cũng trong năm này ông bị bắt do nghi ngờ tham gia vào tổ chức vũ trang Tagantsev và bị xử bắn, nơi xử bắn và phần mộ không rõ.
Nicolai Gumilyov không chỉ là nhà thơ mà ông còn là một nhà thám hiểm châu Phi có tiếng. Ông tham gia các đoàn thám hiểm đông và bắc Phi, mang về cho bảo tàng dân tộc học ở Saint Petersburg nhiều bộ sưu tập có giá trị. Ngoài sáng tác thơ ông còn là một nhà văn với nhiều truyện hay và là một dịch giả xuất sắc.
Ảnh hưởng văn học của Gumilyov [sửa]
Nicolai Gumilyov kiên trì tổ chức nhiều nhóm văn học, không được người đương thời đánh giá cao, nhưng đã để lại nhiều kết quả tốt đẹp. Những học trò của ông như Georgy Abramovich, Georgy Ivanov, Vsevolod Rozhdestvensky, Irina Odoyetseva, Nicolai Tikhonov… và nhiều người khác sau này đã trở thành những nhà thơ nổi tiếng. Phái văn học Đỉnh cao đã thu hút những tài năng thi ca xuất sắc đương thời như Anna Akhmatova và Osip Mandelstam. Nicolai Gumilyov có sự ảnh hưởng sâu sắc đến thơ ca hải ngoại của Nga cũng như thơ ca Xô Viết.
Tác phẩm [sửa]
Nikolai Gumilyov cùng vợ và con trai
- Путь конквистадоров (1905)
- Романтические цветы (1908)
- Жемчуга (1910)
- Чужое небо (1912)
- Колчан (1916)
- К Синей звезде (1917)
- Колчан, Четвертая книга стихов, Книгоиздательствово «Петрополис», Берлин (1923).
- Тень пальмы (1922) – tập truyện
- Эмали и камеи (1914) – dịch Théophile Gautier.
Thư mục [sửa]
- 1. Павловский А.И. Николай Гумилев. — В кн.: Гумилев Н. Стихотворения и поэмы. Л., 1988
- 2. Николай Гумилев в воспоминаниях современников. М., 1989
- 3. Гумилев Н.С. Проза. М., 1990
- 4. Гумилев Н.С. Драматические произведения. Переводы. Статьи. Л., 1990
- 5. Гумилев Н.С. Собрание сочинений, тт. 1-3. М., 1991
- 6. Н.С.Гумилев pro et contra: личность и творчество Н.Гумилева в оценке русских мыслителей и исследователей. СПб, 1995
Một vài bài thơ [sửa]
- Giác quan thứ sáu
-
- Rượu tình yêu trong ta thật tuyệt vời
- Bánh mì cho ta tự vào lò nướng
- Và người phụ nữ mà trời ban tặng
- Lúc trước khổ đau, giờ đến ngọt bùi.
-
- Biết làm chi với hoàng hôn tím đỏ
- Trên bầu trời đang từng phút lạnh dần
- Đấy là nơi có tĩnh lặng thần tiên
- Biết làm chi với dòng thơ bất tử?
-
- Không hôn ai và không uống, không ăn
- Khoảnh khắc trôi, không thể nào giữ lại
- Ta vật vã khóc than, nhưng cứ phải
- Tất cả đi qua, tất cả đi ngang.
-
- Như đứa bé quên trò chơi của mình
- Để ghé mắt ngó nhìn con gái tắm
- Chẳng biết gì tình yêu, dù một bận
- Vẫn bâng khuâng một mong ước kín thầm.
-
- Như thuở nào trong khu rừng nguyên sinh
- Vật bò sát rống lên vì bất lực
- Khi cảm thấy vẫn hãy còn chưa mọc
- Trên vai mình đôi cánh của loài chim.
-
- Thế kỉ theo nhau, Trời hỡi, đến bao giờ?
- Dưới dao mổ thiên nhiên và nghệ thuật
- Linh hồn gào lên, xác thân suy kiệt
- Và giác quan thứ sáu được sinh ra.
-
- Thơ về em
-
- Thơ về em, về em, chỉ về em
- Không một chút gì về anh hết cả!
- Trong số phận con người tăm tối quá
- Em là lời kêu gọi tới trời xanh.
-
- Con tim yêu thương cao thượng của em
- Như biểu tượng thời gian trong quá khứ
- Sự tồn tại mọi giống nòi, tất cả
- Làm phép thiêng, thần thánh hóa thời gian.
-
- Nếu những vì sao sáng và kiêu hãnh
- Mà quay lưng lại với trái đất này
- Thì trái đất có hai vì sao sáng
- Là đôi mắt can đảm của em đây.
-
- Và đến một khi thiên thần màu vàng
- Thổi kèn lên rằng thời gian đã cạn
- Thì chúng tôi giơ khăn em màu trắng
- Trước thiên thần để che chở cho em.
-
- Tiếng động lặng ngừng trong ống kèn rung
- Thiên thần đổ xuống từ trên cao đó…
- Thơ về em, về em, chỉ về em
- Không một chút gì về anh hết cả!
-
- Anh mơ thấy hai chúng mình đã chết
-
- Anh mơ thấy hai chúng mình đã chết
- Ta nằm đây với ánh mắt yên lòng
- Cả hai chiếc quan tài đều trắng toát
- Người ta đặt kề bên.
-
- Khi nào ta từng nói rằng: “Quá đủ”?
- Đã lâu chưa và có y nghĩa gì?
- Nhưng thật lạ lùng tim không đau khổ
- Và con tim không khóc, thấy lạ ghê.
-
- Và tình cảm bất lực đến lạ lùng
- Những y nghĩ giá băng trong sáng quá
- Bờ môi không còn khao khát ước mong
- Dù bờ môi vẫn tuyệt vời muôn thuở.
-
- Thế là hết: hai chúng mình đã chết
- Ta nằm đây với ánh mắt yên lòng
- Cả hai chiếc quan tài đều trắng toát
- Người ta đặt kề bên.
- Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
|
- Шестое чувство
-
- Прекрасно в нас влюбленное вино
- И добрый хлеб, что в печь для нас садится,
- И женщина, которою дано,
- Сперва измучившись, нам насладиться.
-
- Но что нам делать с розовой зарей
- Над холодеющими небесами,
- Где тишина и неземной покой,
- Что делать нам с бессмертными стихами?
-
- Ни съесть, ни выпить, ни поцеловать.
- Мгновение бежит неудержимо,
- И мы ломаем руки, но опять
- Осуждены идти всё мимо, мимо.
-
- Как мальчик, игры позабыв свои,
- Следит порой за девичьим купаньем
- И, ничего не зная о любви,
- Все ж мучится таинственным желаньем;
-
- Как некогда в разросшихся хвощах
- Ревела от сознания бессилья
- Тварь скользкая, почуя на плечах
- Еще не появившиеся крылья;
-
- Так век за веком - скоро ли, Господь? -
- Под скальпелем природы и искусства
- Кричит наш дух, изнемогает плоть,
- Рождая орган для шестого чувства.
-
- О тебе
-
- О тебе, о тебе, о тебе,
- Ничего, ничего обо мне!
- В человеческой, темной судьбе
- Ты - крылатый призыв к вышине.
-
- Благородное сердце твое -
- Словно герб отошедших времен.
- Освящается им бытие
- Всех земных, всех бескрылых племен.
-
- Если звезды, ясны и горды,
- Отвернутся от нашей земли,
- У нее есть две лучших звезды:
- Это - смелые очи твои.
-
- И когда золотой серафим
- Протрубит, что исполнился срок,
- Мы поднимем тогда перед ним,
- Как защиту, твой белый платок.
-
- Звук замрет в задрожавшей трубе,
- Серафим пропадет в вышине...
- ...О тебе, о тебе, о тебе,
- Ничего, ничего обо мне!
-
- Мне снилось: мы умеpли оба
-
- Мне снилось: мы умеpли оба,
- Лежим с успокоенным взглядом,
- Два белые, белые гpоба
- Поставлены pядом.
-
- Когда мы сказали: "Довольно"?
- Давно ли, и что это значит?
- Hо стpанно, что сеpдцу не больно,
- Что сеpдце не плачет.
-
- Бессильные чувства так стpанны,
- Застывшие мысли так ясны,
- И губы твои не желанны,
- Хоть вечно пpекpасны.
-
- Свеpшилось: мы умеpли оба,
- Лежим с успокоенным взглядом,
- Два белые, белые гpоба
- Поставлены pядом.
|
Liên kết ngoài [sửa]