Innokentiy Fyodorovich Annensky (tiếng Nga: Инокентий Фёдорович Анненский, 1 tháng 9 năm 1855 – 11 tháng 12 năm 1909) – nhà thơ, dịch giả, nhà phê bình Nga, là một nhà thơ lớn của văn học Nga thế kỷ bạc.
Tiểu sử [sửa]
Innokenty Annensky sinh ở Omsk trong một gia đình công chức. Bố là trưởng đoạn đường sắt Omsk. Lên 5 tuổi gia đình chuyển về Sankt-Peterburg. Cả bố và mẹ mất khi Annensky còn nhỏ nên ở với người anh trai – là nhà kinh tế học, nhà chính trị có ảnh hưởng đến sự nghiệp của Annensky sau này. Năm 1879 tốt nghiệp khoa ngôn ngữ Đại học Sank-Peterburg, Annensky làm giáo viên dạy tiếng Latin, tiếng Hy Lạp ở các trường gymnazy Sankt-Peterburg, in các bài viết ở tạp chí của Bộ giáo dục. Năm 1891 làm hiệu trưởng trường gymnazy ở Kiev. Năm 1906 làm thanh tra giáo dục tỉnh Sankt-Peterburg. Annensky biết làm thơ từ nhỏ nhưng không sưu tập, chỉ đến năm 1904 mới in tập thơ đầu tiên Тихие песни (Những bài ca thầm lặng) theo lời khuyên của anh trai và chị dâu. Năm 1910 in tập Кипарисовый ларец (Chiếc hòm trắc bá diệp) và tuyển tập thơ sau khi chết in năm 1923. Thơ của Annensky, theo như lời của chính ông, là “sự thể hiện nỗi đau của tâm hồn thành thị”, cảm nhận mọi thứ qua tâm trạng của người theo chủ nghĩa ấn tượng. Ông có sự ảnh hưởng lớn tới các nhà thơ phái Asmeist như Anna Akhmatova, Nicolai Gumilyov, Osip Mandelstam. Ngoài thơ và phê bình, Annensky còn là một dịch giả nổi tiếng của Nga. Ông dịch thơ của Euripides và một loạt các bi kịch nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại: Melanippa-phylosoph (1901), Tsar Ixion (1903), Laodamia (1906). Các nhà thơ cổ điển Pháp: Baudelaire, Paul Verlaine, Arthur Rimbaud… Ông mất ở Sank-Peterburg năm 1909.
Thư mục tiếng Nga [sửa]
- Тихие песни (под псевдонимом "Никто"), СПБ., 1904; 2-е изд., П., 1923;
- Кипарисовый ларец, вторая книга стихов, М., 1910; 2-е изд., П., 1923;
- Посмертные стихи, П., 1923;
- Фамира Кифарэд, вакхическая драма, СПБ., 1919;
- Книга отражений, СПБ., 1906; Вторая книга отражений, СПБ., 1909;
- Театр Эврипида, т. I, СПБ., 1907;
- Эврипид, драмы, М., 1916-1921 (из намеченных 6 тт. вышли I-III, текст переводов А. подвергся значительным переделкам со стороны редактора Ф. Ф. Зелинского);
- О современном лиризме: 1) "Они", 2) "Оне" (Обзор современной поэзии), статьи в журн. "Аполлон", № 1-3, 1909;
- Автобиографические материалы: Венгеров С., Критико-биографический словарь, т. VI, СПБ., 1904; Фидлер Ф., Первые лит-ые шаги, М., 1911; Архипов Е., Библиография А., М., 1914; Кривич В., А. по семейным воспоминаниям и рукописным материалам, альм. "Лит-ая мысль", III, Л., 1925.
Một vài bài thơ dịch ra tiếng Việt [sửa]
- Canzone
-
- Если б вдруг ожила небылица,
- На окно я поставлю свечу,
- Приходи... Мы не будем делиться,
- Всё отдать тебе счастье хочу!
-
- Ты придешь и на голос печали,
- Потому что светла и нежна,
- Потому что тебя обещали
- Мне когда-то сирень и луна.
-
- Но... бывают такие минуты,
- Когда страшно и пусто в груди...
- Я тяжел — и немой и согнутый...
- Я хочу быть один... уходи!
-
- Две любови
-
- Есть любовь, похожая на дым;
- Если тесно ей - она одурманит,
- Дать ей волю - и ее не станет...
- Быть как дым,- но вечно молодым.
-
- Есть любовь, похожая на тень:
- Днем у ног лежит - тебе внимает,
- Ночью так неслышно обнимает...
- Быть как тень, но вместе ночь и день...
-
- Весенний Романс
-
- Еще не царствует река,
- Но синий лед она уж топит;
- Еще не тают облака,
- Но снежный кубок солнцем допит.
-
- Через притворенную дверь
- Ты сердце шелестом тревожишь...
- Еще не любишь ты, но верь:
- Не полюбить уже не можешь...
-
- Среди миров
-
- Среди миров, в мерцании светил
- Одной Звезды я повторяю имя...
- Не потому, чтоб я Ее любил,
- А потому, что я томлюсь с другими.
-
- И если мне сомненье тяжело,
- Я у Нее одной ищу ответа,
- Не потому, что от Нее светло,
- А потому, что с Ней не надо света.
|
- Canzone
-
- Nếu bỗng nhiên sống lại chuyện thần tiên
- Thì anh đặt ngọn đèn lên cửa sổ
- Em đến đây… chúng mình không chia sẻ
- Hạnh phúc này, anh trao hết cho em.
-
- Em đến đây với giọng nói đượm buồn
- Bởi vì em dịu dàng, trong sáng quá
- Bởi vì trao em cho anh từng hứa
- Ánh trăng vàng và tím tử đinh hương.
-
- Nhưng mà anh hay có phút giây, thường
- Rất sợ hãi và trống trơn trong ngực
- Thấy nặng nề – anh lặng im, cúi gập
- Em đi đi! Anh muốn một mình hơn.
-
- Hai tình yêu
-
- Có tình yêu giống như là làn khói
- Nếu gần nhau tình sẽ hóa màn sương
- Cho tình ý chí – tình không sống nổi
- Là khói thôi – nhưng mãi mãi trẻ trung.
-
- Lại có tình yêu giống như là bóng
- Tình nghe lời, ngày nằm ở dưới chân
- Đêm ôm ấp không còn nghe tiếng động
- Là bóng, nhưng ngày đêm vẫn đi cùng.
-
- Khúc lãng mạn mùa xuân
-
- Dòng sông hãy còn chưa nổi sóng
- Nhưng đang nhấn chìm tảng băng xanh
- Những đám mây hãy còn chưa tan
- Nhưng chén tuyết bằng mặt trời đang uống.
-
- Em hé nhìn qua cánh cửa
- Và con tim xao xuyến, rung rinh
- Em hãy còn chưa yêu, nhưng hãy tin:
- Tình yêu – em không thể chối từ được nữa.
-
- Giữa những đời
-
- Giữa những đời, giữa chập chờn tinh tú
- Tôi nhắc cái tên của một Vì Sao…
- Không phải vì để được yêu Em đâu
- Mà bởi với người ta, tôi mệt lử.
-
- Và nếu như mối nghi ngờ rất nặng
- Câu trả lời ở Người ấy tôi tìm
- Không phải vì ánh sáng đến từ Em
- Mà bởi, với Em không cần ánh sáng.
- Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.
|
Liên kết ngoài [sửa]