ORP Piorun (G65)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
ORP Piorun2.jpg
Tàu khu trục ORP Piorun (G65) quay trở về Plymouth sau cuộc đối đầu thiết giáp hạm Đức Bismarck
Phục vụ (Ba Lan) Polish Naval Ensign
Tên gọi: ORP Piorun (G65)
Đặt hàng: 15 tháng 4, 1939[1]
Hãng đóng tàu: John Brown & Company, Clydebank
Kinh phí: 400.963 Bảng Anh
Đặt lườn: 26 tháng 7, 1939
Hạ thủy: 7 tháng 5, 1940 như là chiếc HMS Nerissa
Hoàn thành: 4 tháng 11, 1940
Trưng dụng: tháng 10, 1940
Nhập biên chế: 4 tháng 11, 1940
Số phận: Trả cho Hải quân Hoàng gia, 1946
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Noble
Trưng dụng: tháng 8, 1946
Tái biên chế: 26 tháng 10, 1946
Số phận: bị tháo dỡ 1955
Đặc điểm khái quát [2]
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục N
Trọng tải choán nước: 1.690 tấn Anh (1.720 t) (tiêu chuẩn)
1.965 tấn Anh (1.997 t) (đầy tải)
Độ dài: 356 ft 6 in (108,66 m) (chung)
Sườn ngang: 35 ft 8 in (10,87 m)
Mớn nước: 9 ft (2,7 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons
2 × nồi hơi ống nước Admiralty
2 × trục
công suất 40.000 shp (30.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.500 nmi (10.190 km; 6.330 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
183
Vũ trang:

6 x pháo QF 4,7 inch (120 mm) Mk.XII trên bệ nòng đôi CP Mk.XIX (3x2);
4 x pháo phòng không QF 2 pounder Mk.VIII (40 mm) L/39 trên bệ bốn nòng Mk.VII (1x4);
8 × súng máy 0,5 inch (12,7 mm) Mk.III trên bệ Mk.III (2x4);
4 x pháo phòng không Oerlikon 20 mm (4x1);[3]
10 × ống phóng ngư lôi 21 inch (530 mm) Mk. IX (2x5);

45 × mìn sâu[4]

ORP Piorun (G65) là một tàu khu trục lớp N đã phục vụ cùng Hải quân Ba Lan trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Được Hải quân Hoàng gia Anh đặt lườn như là chiếc HMS Nerissa, nó được giao cho Ba Lan như là chiếc Piorun (tiếng Ba Lan: "Tia chớp") vào năm 1940. Hoạt động nổi bật nhất của nó trong chiến tranh là đã đụng độ với Bismarck trong trận chiến sau cùng của chiếc thiết giáp hạm Đức. Sau chiến tranh nó được hoàn trả cho Anh như là chiếc HMS Noble năm 1946 và bị tháo dỡ năm 1955.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Con tàu được chế tạo tại xưởng tàu của hãng John Brown & CompanyClydebank, Glasgow. Nó được đặt lườn vào tháng 7, 1939, được hạ thủy vào ngày 7 tháng 5, 1940 và hoàn tất vào ngày 4 tháng 11, 1940. Thoạt tiên được cho nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS Nerissa, nó được chuyển giao cho chính phủ lưu vong Ba Lan để thay thế cho tàu khu trục ORP Grom, vốn bị mất tại khu vực bờ biển Na Uy vào ngày 4 tháng 5, 1940.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “ORP Piorun (G 65)”. U-boat.net. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2009. 
  2. ^ Whitley 2000, tr. 117
  3. ^ Geoffrey B Mason. “HMS Nerissa/Polish Piorun - N-class Destroyer”. naval-history.net. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2009. 
  4. ^ Gardiner & Chesneau 1980, tr. 41

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]