Shikishima (thiết giáp hạm Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Japanese battleship Shikishima 2.jpg
Thiết giáp hạm Nhật Bản Shikishima trên một bưu ảnh năm 1905
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Shikishima
Đặt hàng: 1897
Hãng đóng tàu: Thames Iron Works, Leamouth, London
Đặt lườn: 29 tháng 3 năm 1897
Hạ thủy: 1 tháng 11 năm 1898
Nhập biên chế: 26 tháng 1 năm 1900
Hoạt động: 1900
Ngừng hoạt động: 1923
Xóa đăng bạ: 18 tháng 1 năm 1948
Số phận: Bị tháo dỡ năm 1948
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp Shikishima
Trọng tải choán nước: 15.453 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 126,5 mét (415,03 ft) (mực nước)
135 mét (442,91 ft) (chung)
Sườn ngang: 23,4 mét (76,77 ft)
Mớn nước: 8,29 mét (27,20 ft)
Động cơ đẩy: 2 × động cơ hơi nước ba buồng bành trướng đặt dọc
25 × nồi hơi Belleville
2 × trục
công suất 14.500 mã lực (10,8 MW)
Tốc độ: 18 hải lý một giờ (33 km/h)
Tầm xa: 7.000 hải lý (13.000 km) ở tốc độ 10 hải lý một giờ (19 km/h)
Tầm hoạt động: 1.722 tấn than
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
836
Vũ trang: 4 × pháo Armstrong Whitworth 305 mm (12 inch) (2×2)
14 × pháo QF 152 mm (6 inch)
20 × pháo QF 12 pounder (3 inch) 12 cwt
12 × pháo 3 pounder
5 × ngư lôi 18 inch (457 mm)
2 × pháo phòng không 3 inch (76 mm) (bổ sung năm 1917)
Bọc giáp: đai giáp chính: 100-229 mm (4-9 inch)
sàn tàu: 63-100 mm (2,5-4 inch)
tháp pháo: 50-254 mm (2-10 inch)
ụ pháo: 200-360 mm (8-14 inch)
tháp chỉ huy: 75-356 mm (3-14 inch)

Shikishima (tiếng Nhật: 敷島) là một thiết giáp hạm thế hệ tiền-dreadnought của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, là chiếc dẫn đầu của lớp thiết giáp hạm Shikishima vào đầu thế kỷ 20, và là một trong số sáu thiết giáp hạm (Fuji, Yashima, Hatsuse, Shikishima, AsahiMikasa) đã hình thành nên hàng thiết giáp hạm chính của Nhật Bản trong cuộc Chiến tranh Nga-Nhật những năm 1904-1905.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếp theo sau cuộc Chiến tranh Thanh-Nhật (1894-1895) và bị buộc phải hoàn trả bán đảo Liêu Đông cho Trung Quốc dưới áp lực của Đế quốc Nga, Nhật Bản bắt đầu xây dựng sức mạnh quân sự để chuẩn bị cho những cuộc đối đầu trong tương lai. Đối với Hải quân, họ bắt đầu một chương trình mở rộng hải quân mười năm bằng việc đóng sáu thiết giáp hạm và sáu tàu tuần dương bọc thép làm hạt nhân.

Shikishima được đặt hàng tại xưởng đóng tàu Thames Iron WorksLondon vào năm 1897. Nó được thiết kế bởi Phillip Watts, và về căn bản là một phiên bản cải tiến dựa trên lớp thiết giáp hạm Majestic của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc. Được đặt lườn vào ngày 29 tháng 3 năm 1897, nó được hạ thủy vào ngày 1 tháng 11 năm 1898 và hoàn tất vào ngày 26 tháng 1 năm 1900.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Shikishima về đến Kure vào ngày 17 tháng 4 năm 1900. Nó đã phục vụ trong cuộc Chiến tranh Nga-Nhật, bị hư hại trong trận bắn phá cảng Lữ Thuận, tham gia trận Hoàng Hải, và đã bị bắn trúng 10 phát trong trận Tsushima.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Shikishima đặt căn cứ tại Sasebo và được sử dụng để tuần tra tại các khu vực của biển Đông Trung Quốc. Nó bị hư hại trong một vụ nổ vào ngày 24 tháng 7 năm 1916 và một lần nữa vào ngày 16 tháng 8 năm 1917. Được xem là lạc hậu do sự phát triển của thế hệ thiết giáp hạm Dreadnought, Shikishima chỉ phục vụ tại vùng biển Nhà Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Vào năm 1920, Shikishima được sử dụng như là tàu hỗ trợ, bảo vệ các cuộc đổ bộ binh lính Nhật Bản lên vùng Viễn Đông nước Nga trong vụ can thiệp Siberi.

Thiết giáp hạm Shikishima.

Được tái trang bị vào năm 1921, Shikishima được xếp lại lớp như một tàu phòng duyên hạng nhất và được đưa về những nhiệm vụ huấn luyện cùng năm đó. Bị giải giáp theo những điều khoản của Hiệp ước Hải quân Washington, nó được sử dụng như một trường huấn luyện cho học viên tàu ngầm sau năm 1923. Nó được sử dụng một thời gian ngắn như là tàu vận tải, rồi được chính thức rút khỏi Đăng bạ Hải quân vào năm 1926, nhưng được cho neo đậu tại Sasebo như một lườn tàu, một trại lính nổi, và là một trung tâm huấn luyện.

Shikishima vẫn tiếp tục nổi sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, thoát khỏi các cuộc ném bom của Hoa Kỳ, nhưng đã không di chuyển bằng chính động lực của mình trong hơn hai thập niên. Nó bị tháo dỡ vào năm 1948 tại xưởng hải quân Sasebo.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Andidora, Ronald (2000). Iron Admirals: Naval Leadership in the Twentieth Century. Greenwood Press. ISBN 0-313-31266-4. 
  • Brown, D. K. (1999). Warrior to Dreadnought, Warship Development 1860-1906. Naval Institute Press. ISBN 1-84067-529-2. 
  • Evans, David (1979). Kaigun: Strategy, Tactics, and Technology in the Imperial Japanese Navy, 1887-1941. US Naval Institute Press. ISBN 0870211927. 
  • Hoare, J.E. (1999). Britain and Japan, Biographical Portraits, Volume III. RoutledgeCurzon. ISBN 1873410891. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895-1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jane, Fred T. The Imperial Japanese Navy. Thacker, Spink & Co (1904) ASIN: B00085LCZ4
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869-1945. Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Schencking, J. Charles (2005). Making Waves: Politics, Propaganda, And The Emergence Of The Imperial Japanese Navy, 1868-1922. Stanford University Press. ISBN 0804749779. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]