Từ Nhược Tuyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Từ Nhược Tuyên
Vivian4comp.jpg
Tên khai sinh 徐淑娟 (bính âm: Xú Shújuān; Wade–Giles: Hsu Jo-hsüan)
Nguyên quán Flag of the Republic of China.svg Đài Loan
Nghề nghiệp Ca sĩ, diễn viên, người mẫu
Loại hình nhạc Pop
Hãng đĩa Toshiba EMI (1995–1996)
BMG (1999–2001)
Avex Trax (2003–2007)
Warner Music (2007–2010)
Universal Music (2010-hiện tại)
Năm hoạt động hiện tại
Hoạt động liên quan Shao Nü Dui (1990–1992)
Black Biscuits (1997–1999)
The d.e.p. (2001)
Vivian or Kazuma (2003)
Trang web chính thức www.avex.com.tw/vivian

Từ Nhược Tuyên (Trung văn phồn thể: 徐若瑄; bính âm: Xú Ruòxuān; Wade–Giles: Hsu Jo-hsüan; Bạch Thoại tự: Chhî Jio̍k-soan; tiếng Nhật: ビビアン・スー Bibian Sū; tiếng Anh: Vivian Hsu; sinh 19 tháng 3 năm 1975 tại Đài Trung, Đài Loan) là một nữ ca sĩ, diễn viên, người mẫu Đài Loan được biết đến nhiều ở Đông Á, đặc biệt là Đài Loan và Nhật Bản.

Cô nổi tiếng tại Nhật Bản khi xuất hiện lần đầu năm 1995 và trở thành một ngôi sao lớn được công nhận sau khi xuất hiện không ngừng nghỉ trên những kênh truyền thông những năm 1990.[1]

Ngoài ra Từ Nhược Tuyên cũng là giọng nữ chính của ban nhạc nhảy Black Biscuits, từng phát hành sáu đĩa đơn, Stamina, Timing, Relax, Bye-Bye, và một album Life. Tất cả bốn đĩa đơn đều đã góp mặt trong bảng xếp hạng Oricon, và Life xếp thứ 6 trong bảng xếp hạng các album.

Sự nghiệp ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Là con thứ hai trong gia đình có ba người con, Từ Nhược Tuyên có cha là người Đài Loan và mẹ là người Thái Nhã gốc Đài,[2] tên cô lúc đó là Từ Thục Quyên (Trung văn phồn thể: 徐淑娟; bính âm: Xú Shújuān), và sử dụng tên này cho đến khi bước chân vào làng người mẫu. Ba mẹ ly dị khi cô còn nhỏ, cô theo học trường Trung học Jianxing Đài Bắc trường Phổ thông Shulinguo.

Sự nghiệp giải trí của Từ Nhược Tuyên bắt đầu khi cô đạt giải Nhất trong cuộc thi "Người đẹp tài năng" do đài CTS của Đài Loan tổ chức năm 1990. Lúc đó cô còn đang phải giao thức ăn bằng xe đạp và khán giả dần nhận ra cô sau khi xem truyền hình. Cũng năm đó cô gia nhập nhóm nhạc 3 người "Girls' Team" (少女隊). Phát hành 2 album vào năm 1991 và 1992, sau đó tan rã. Kể từ đó cô làm nghề người mẫu.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]