Temnospondyli

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Temnospondyls
Thời điểm hóa thạch: Carbon sớm - Creta sớm, 330–120Ma
có thể hậu duệ phân loại Lissamphibia tồn tại đến nay.
Eryops - National Museum of Natural History - IMG 1974.JPG
Bộ xương của Eryops megacephalus tại National Museum of Natural History, Washington, D.C.
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Amphibia
Bộ (ordo) Temnospondyli
Zittel, 1888
Phân nhóm
Xem tiếp

Temnospondyli (từ tiếng Hy Lạp τέμνειν (temnein, "cắt") và σπόνδυλος (spondylos, "xương sống")) là một bộ đa dạng động vật bốn chân, thường được coi là động vật lưỡng cư nguyên thủy, phát triển mạnh trên toàn thế giới vào thời gian kỷ Cacbon, kỷ Permikỷ Trias. Một số loài tiếp tục sinh tồn vào kỷ Phấn trắng. Hóa thạch đã được tìm thấy trên khắp các châu lục. Trong khoảng 210 triệu năm của lịch sử tiến hóa, chúng thích nghi với một loạt các môi trường sống, bao gồm cả nước ngọt, trên mặt đất, và môi trường biển, mặc ven biển. Lịch sử cuộc sống của chùng cũng được hiểu, với hóa thạch được biết đến từ giai đoạn ấu trùng, biến thái, và sự trưởng thành. Hầu hết temnospondyli là bán thủy sinh, mặc dù một số đã gần như hoàn toàn sống trên mặt đất, trở về nước chỉ để sinh sản. Temnospondyli là một số các vật có xương sống đầu tiên hoàn toàn thích nghi với cuộc sống trên đất liền. Mặc dù temnospondyli được coi là động vật lưỡng cư, nhiều thành viên có các đặc điểm, chẳng hạn như vảy, móng vuốt, và áo giáp như tấm xương, giúp phân biệt chúng với các loài lưỡng cư hiện đại.

Temnospondyli đã được biết đến từ đầu thế kỷ 19, và ban đầu được cho là loài bò sát. Chúng được mô tả tại các thời điểm khác nhau như batrachia, stegocephalia, và labyrinthodontia, mặc dù những tên này bây giờ ít được sử dụng. Động vật tại nhóm trong Temnospondyli đã trải ra trong một số nhóm lưỡng cư cho đến đầu thế kỷ 20, khi chúng đã được tìm thấy thuộc về một đơn vị phân loại riêng biệt dựa trên cấu trúc của cột sống của chúng. Temnospondyli có nghĩa là "đốt sống cắt", như mỗi đốt sống được chia thành nhiều phần.

Lịch sử tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ Cacbon và đầu kỷ Permi[sửa | sửa mã nguồn]

Capetus, một Temnospondyli cơ bản.

Temnospondyli xuất hiện vào đầu kỷ Cacbon, khoảng 330 triệu năm trước (Mya). Trong suốt kỷ Cacbon, Temnospondyli gồm các dạng cơ bản kích thước trung bình, như Dendrerpeton hoặc dạng bán thủy sinh cỡ lớn (Cochleosaurus). Số khác, phát triển hơn, ví dụ Amphibamidae, nhỏ hơn và thích nghi nhiều hơn với đời sống trên cạn. Những sinh vật này bề ngoài giống bộ Có đuôi, và vài đơn vị phân loại, như chi Branchiosaurus, còn có mang ngoài giống axolotl hiện đại. Vào cuối kỷ Cacbonđầu kỷ Permi (khoảng 300 Mya), nhiều nhóm, ví dụ DissorophidaeTrematopidae tiến hóa mạnh, các chi và cột sống khỏe thích hợp cho đời sống cạn, số khác như Eryopidae, phát triển thành sinh vật săn mồi bán thủy sinh lớn. Dvinosauria, một nhóm temnospondylia nhỏ, tiến hóa từ các tổ tiên trên cạn vào cuối kỷ Cacbon.[1]

Cuối kỷ Permi[sửa | sửa mã nguồn]

Prionosuchus kỷ Permi, động vật lưỡng cư lớn nhất từng biết.

Vào cuối kỷ Permi, hạn hán tăng nhanh và sự đa dạng hóa của động vật bò sát làm các Temnospondyli trên cạn suy giảm, nhưng các loài bán thủy sinh và thủy sinh tiếp tục tiến hóa, như chi Melosaurus lớn ở đông Âu. Nhóm Archegosauridae, phát triển mỏ dài và bề ngoài giống cá sấu. Prionosuchus của Archegosauridae tại Brazil là chi động vật lưỡng cư lớn nhất được biết đến, dài 9 m.[2]

Đại Trung Sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, Temnospondyli được phân loại theo cấu trúc của đốt sống. Các dạng đầu tiên, với đốt sống phức tạp bao gồm một số yếu tố riêng biệt, được đặt trong phân bộ Rachitomi, và các dạng thủy sinh lớn kỷ Trias với đốt sống đơn giản được đặt trong phân bộ Stereospondyli. Với sự phát triển gần đây của phát sinh chủng loài, phân loại này không còn khả thi nữa. Điều kiện kiểu rachitomi cơ bản được tìm thấy trong nhiều động vật bốn chân nguyên thủy, chứ không phải chỉ có ở một nhóm Temnospondyli. Hơn nữa, sự khác biệt giữa các kiểu cột sống Rachitomi và Stereospondyli không hoàn toàn rõ ràng. Một số loài Temnospondyli có đốt sống rachitomi, bán rhachitomi, và stereospondyli tại các vị trí khác nhau trên cùng một cột sống. Một số loài khác có hình thái trung gian không phù hợp với bất kỳ thể loại phân loại nào. Rachitomi không còn được công nhận là một nhóm, nhưng Stereospondyli vẫn được coi là hợp lệ.[3][4] Dưới đây là một phân loại đơn giản của Temnospondyli cho thấy các nhóm hiện đang được công nhận:

Edops, một loài thuộc nhóm Edopoidea cơ bản.
Zygosaurus, một loài thuộc Euskelia.
Dvinosaurus, một loài thuộc Dvinosauria.
Sclerothorax, một loài Limnarchia cơ bản.
Cyclotosaurus, một loài thuộc Stereospondyli.

Lớp Amphibia

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Pawley, K. (2007). “The postcranial skeleton of Trimerorhachis insignis Cope, 1878 (Temnospondyli: Trimerorhachidae): a plesiomorphic temnospondyl from the Lower Permian of North America”. Journal of Paleontology 81 (5): 873–894. doi:10.1666/pleo05-131.1. 
  2. ^ Fox, C.B.; Hutchinson, P. (1991). “Fishes and amphibians from the Late Permian Pedra de Fogo Formation of Northern Brazil”. Palaeontology 34 (3): 561–573. 
  3. ^ Laurin, M.; and Steyer, J.-S. (2000). “Phylogeny and Apomorphies of Temnospondyls”. Tree of Life Web Project. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2011. 
  4. ^ Yates, A.M.; and Warren, A.A. (2000). “The phylogeny of the 'higher' temnospondyls (Vertebrata: Choanata) and its implications for the monophyly and origins of the Stereospondyli”. Zoological Journal of the Linnean Society 128 (1): 77–121. doi:10.1111/j.1096-3642.2000.tb00650.x. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]