Thú lông nhím mỏ dài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thú lông nhím mỏ dài[1]
Long-beakedEchidna.jpg
Thú lông nhím mỏ dài Tây New Guinea
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Monotremata
Họ (familia) Tachyglossidae
Chi (genus) Zaglossus
Gill, 1877
Loài điển hình
Zaglossus bruijni
Peters & Doria, 1876
Phân bố của các loài trong chi Zaglossus
Phân bố của các loài trong chi Zaglossus
Loài

Thú lông nhím mỏ dài, tên khoa học Zaglossus, là một chi thú lông nhím, động vật đơn huyệt gai sống ở New Guinea. Chi này hiện nay chỉ còn 3 loài tồn tại trong tổng số 5 loài (2 loài đã tuyệt chủng). Chúng là loài động vật có vú đẻ trứng như loài thú mỏ vịt.

Các loài[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Thú lông nhím mỏ dài có cái mỏ ngắn và có kích thước lớn hơn các loài thú lông nhím khác. Chúng có gai ngắn hơn, nằm rải rác xen giữa các sợi lông thô. Mõm của chúng dài chiếm hai phần ba phần đầu và hơi cong xuống dưới. Các chi của chúng có 5 móng vuốt, nhưng trước đây chỉ có ba ngón chân ở giữa là có móng vuốt. Thú lông nhím mỏ dài sống chủ yếu về đêm. Thức ăn của chúng bao gồm côn trùng ở trên đất trên đất bap gồm cả kiến và mối nên chúng còn được gọi là thú ăn kiến khổng lồ. Con non khi được sinh ra bám vào bụng của mẹ chúng, và chúng sẽ được an toàn cho đến khi trưởng thành. Ít có thông tin về cuộc sống của chúng nhưng người ta cho rằng cuộc sống của chúng cũng giống với thú lông nhím mỏ ngắn. Số lượng của thú lông nhím ở New Guinea đang giảm dần vì mất môi trường sống khiến chúng đang là loài động vật cần được bảo vệ khẩn cấp.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Groves, C. P. (2005). “Order Monotremata”. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World (ấn bản 3). Johns Hopkins University Press. tr. 1–2. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Flannery, T.F. and Groves, C.P. 1998. A revision of the genus Zaglossus (Monotremata, Tachyglossidae), with description of new species and subspecies. Mammalia, 62(3): 367–396

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]