Thú mỏ vịt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thú mỏ vịt
Platypus.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Vực (domain) Eukaryota
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum)

Chordata

(không phân hạng) Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Cận ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass)

Tetrapoda

(không phân hạng) Synapsida
(không phân hạng) Mammaliaformes
Lớp (class) Mammalia
Phân lớp (subclass) Prototheria
Bộ (ordo) Monotremata
Họ (familia) Ornithorhynchidae
Chi (genus) Ornithorhynchus
Blumenbach, 1800
Loài (species) O. anatinus
Danh pháp hai phần
Ornithorhynchus anatinus
(Shaw, 1799)
Khu vực sinh sống của thú mỏ vịt (vùng tím sẫm hơn)[2]
Khu vực sinh sống của thú mỏ vịt (vùng tím sẫm hơn)[2]
Danh pháp đồng nghĩa

O. brevirostris Ogilby, 1832 O. crispus MacGillivray, 1827 O. fuscus Péron, 1807 O. laevis MacGillivray, 1827 O. novaehollandiae Lacépède, 1800 O. paradoxus Blumenbach, 1800 O. phoxinus Thomas, 1923 O. rufus Péron, 1807

O. triton Thomas, 1923

Thú mỏ vịt (danh pháp hai phần: Ornithorhynchus anatinus) là một loài thú đơn huyệt, là một nhánh rất cổ trong cây họ nhà thú, sống ở các hang ở miền đông Úc, tìm kiếm thức ăn dọc theo các sông suối. Là một trong hai loài thú duy nhất đẻ trứng. Loài kia là thú lông nhím.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Thú mỏ vịt có mõm như mỏ vịt, chiều dài thân từ 46-61 cm, đuôi giống đuôi hải ly, đẻ trứng, di chuyển giống bò sát, nuôi con bằng sữa.

Thú mỏ vịt bơi lặn rất giỏi, sống trong hang sát mặt nước. Khi bơi chúng nhắm mắt, mũi và tai lại, khi đó chiếc mỏ hoặt động như ăng ten, phát hiện từ trường yếu ớt xung quanh con mồi.

  • Mõm hay mỏ: Không có răng, nghiền thức ăn bằng những mảng sừng trong mỏ. Trong khi bơi săn mồi, chúng chuyển thức ăn xuống những cái túi bên má, dưới mõm. Khi ngoi lên mặt nước, thú mỏ vịt đưa thức ăn lên miệng, ở đó thức ăn được nghiền nát nhờ "tấm nghiền" trong mỏ. Mõm mềm, có nhiều tế bào thần kinh, trên đó có hai giác quan: một loại là nhờ chạm vào các vật, loại còn lại là nhờ vào kích thích điện nhằm phát hiện ra hướng dòng điện nhỏ phát sinh từ các hoạt động cơ thể của những con mồi nhỏ, hoặc dòng điện yếu phát ra khi dòng nước chảy qua những vật bất động.
  • Chân: chân ngắn, có màng bơi có thể gấp lại. Chân sau có cựa độc dài khoảng 1.5 cm, nối với tuyến độc ở đùi
  • Thân: dài, dẹt
  • Lông: thường có màu nâu, ngắn, mượt, không thấm nước
  • Đuôi: ngắn, hình dạng như mái chèo, dùng để lái nước khi bơi. Đuôi chính là một nơi dự trữ mỡ của thú mỏ vịt
  • Mắt: rất tinh, có thể nhìn xa nhưng vì vị trí của mắt bị khuất nên không thể nhìn thấy những gì ở bên dưới mõm.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Thú mỏ vịt đẻ trứng và nuôi con bằng sữa. Chúng cho con bú bằng cách con mẹ bơi trước tiết sữa vào dòng nước, con non bơi sau uống nước pha lẫn sữa. Đó là ở dưới nước, còn ở trên cạn, thú mỏ vịt con dùng mỏ ép chặt xuống bụng mẹ để sữa từ tuyến sữa sẽ chảy ra khỏi da và thấm vào lông, sau đó chúng sẽ liếm sữa trên lông mẹ.

Tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thú mỏ vịt là họ hàng xa nhất của con người. Chúng có cùng tổ tiên với chúng ta cách đây 160 triệu năm, giai đoạn mà bò sát đang tiến hóa thành thú. Vì điều này nên chúng có các đặc tính giống bò sát như đẻ trứng, chân có cựa có thể tiết nọc độc. Nhưng đặc điểm để xếp chúng vào nhóm thú có vú là vì chúng nuôi con bằng sữa.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Australasian Marsupial & Monotreme Specialist Group (1996). Ornithorhynchus anatinus. Sách đỏ 2006. IUCN 2006. Truy cập 09 tháng 5, 2006. Mục của cơ sở dữ liệu có kèm lý giải tại sao loài này sắp ít quan tâm
  2. ^ “Platypus facts file”. Australian Platypus Conservancy. Truy cập 13 tháng 9.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Anh)

(tiếng Việt)