Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường Đại học Công nghệ Thông tin - Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
Thành lập 08/6/2006
Loại hình Đại học chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông
Hiệu trưởng PGS.TS.Dương Anh Đức
Địa chỉ Khu phố 6, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Trang mạng uit.edu.vn

Trường Đại học Công nghệ Thông tin- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (tên tiếng Anh: VNUHCM-University of Information Technology; viết tắt: UIT) – Trường thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) được thành lập từ năm 2006 theo định hướng là trường đại học trọng điểm, chất lượng cao hàng đầu về công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) của Việt Nam và trong khu vực. UIT cung cấp nguồn nhân lực có năng lực phát triển tự thân và sáng tạo. Khóa cử nhân chính quy đầu tiên của trường khai giảng vào ngày 06 tháng 11, 2006. UIT hiện đang là đối tác lớn của các công ty trong lĩnh vực truyền thông, điện tử, phần mềm về cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao.

Sứ mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Trường ĐHCNTT hướng đến trở thành một trường đại học trọng điểm, chất lượng cao hàng đầu về CNTT-TT của Việt Nam và khu vực; là đích đến tin cậy về đào tạo, nghiên cứu khoa học và sáng tạo-đổi mới của các nhà khoa học, học giả hàng đầu trong lĩnh vực CNTT-TT cũng như các lĩnh vực liên quan. Trường là chỗ dựa của ĐHQG-HCM và Tp.HCM về ứng dụng CNTT-TT, đặc biệt trong việc hình thành mô hình tin học hóa quản lý và đào tạo trực tuyến. Trường là một địa chỉ tin cậy, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư phát triển công nghệ, giới doanh nghiệp trong và ngoài nước; góp phần đắc lực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn an ninh quốc phòng và phát triển hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Theo http://www.uit.edu.vn/ Mục giới thiệu

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 08/06/2006, Trường Đại học Công nghệ Thông tin được thành lập theo quyết định số 134/2006/QĐ-TTg[1] của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trung tâm Phát triển Công nghệ Thông tin và khai giảng năm học đầu tiên vào tháng 11/2006. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là GS. TSKH. Nhà giáo Ưu tú Hoàng Văn Kiếm (2006 - 2011)

Trường Đại học Công nghệ Thông tin là một trường công lập, thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.[2]

Đội ngũ cán bộ - giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Giám hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm kỳ 2011 - 2016

  • Hiệu trưởng: PGS.TS.NGƯT. Dương Anh Đức.
  • Các Phó Hiệu trưởng:
  1. TS.Nguyễn Hoàng Tú Anh;
  2. PGS.TS. Đinh Đức Anh Vũ;
  3. TS. Vũ Đức Lung

Số lượng cán bộ- giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong năm học 2014-2015, lực lượng giảng dạy - nghiên cứu trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ trên 76% tổng số nhà giáo cơ hữu. Tổng số Tiến sĩ và Tiến sĩ Khoa học là 31, trong đó có 02 Giáo sư, 07 Phó Giáo sư, 22 Tiến sĩ và 108 thạc sĩ.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị[sửa | sửa mã nguồn]

  • UIT sử dụng khuôn viên đất là 12,3 hecta trong khu quy hoạch của ĐHQG-HCM tại Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh (đối diện khu du lịch Suối Tiên), diện tích sàn xây dựng là 93.750 m2, kinh phí là 412 tỉ VNĐ.
  • Hệ thống mạng thông tin tư liệu của ĐHQG-HCM kết nối internet và các đơn vị thành viên của ĐHQG-HCM trong đó

có Trung tâm Phát triển CNTT, khu CNPM qua hệ thống cáp quang. Hệ thống có băng thông rộng 8MBps.

  • Thư viện với tổng diện tích sử dụng là 1.266m2, 34.110 số lượng tài liệu các loại, liên kết với hệ thống thư viện trong toàn ĐHQG-HCM.
  • Phòng Thí nghiệm và phòng máy thực hành
  1. Phòng thí nghiệm truyền thông đa phương tiện.
  2. Phòng thí nghiệm hệ thống thông tin.
  3. Hệ thống các phòng thí nghiệm thực hành máy tính với cấu hình cao.
  4. Hệ thống phòng học trực tuyến phục vụ giảng dạy qua mạng và hệ thống các phòng học trực tuyến đặt tại các đơn vị liên kết tại các tỉnh thành từ Bắc đến Nam.

Chương trình đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào tạo đại học: UIT đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho lĩnh vực CNTT-TT thông qua các chương trình đào tạo tiên tiến về CNTT-TT ở bậc đại học. CNTT được ứng dụng mạnh mẽ trong quá trình tổ chức đào tạo, thay đổi nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại và bám sát các yêu cầu của thực tiễn, đồng thời tăng cường khả năng sử dụng tiếng Anh cho sinh viên. Trường đào tạo theo 09 ngành sau:
  • Các chương trình đào tạo đặc biệt:
    1. Chương trình tiên tiến (Advanced Program in Information Systems-APIS): Đào tạo cử nhân ngành hệ thống thông tin. Chương trình hợp tác với đai học Oklahoma State, Hoa Kỳ từ năm 2008 trong đó các môn học được giảng dạy bằng tiếng Anh, đặc biệt chú trọng giúp sinh viên phát triển kỹ năng phân tích, đánh giá vấn đề, phân tích thiết kế và xây dựng các hệ thống thông tin,an toàn dữ liệu.
    2. Cử nhân tài năng ngành khoa học máy tính: Chương trình ưu tiên phát hiện và đào tạo sinh viên giỏi có năng khiếu về khoa học máy tính; Đề cao tư duy sáng tạo, khả năng tự học, tăng cường kỹ năng thực hành, kiến thức thực tế của sinh viên; Định hướng đào tạo chuyên sâu nhằm giúp sinh viên tham gia vào các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển ứng dụng.
    3. Kỹ sư tài năng ngành an toàn thông tin:  Chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở tham khảo chương trình đào tạo chuyên ngành Bảo mật Máy tính và Mạng (Bachelor of Science in Computer and Network Security) của trường Đại học Bang Dakota Hoa kỳ nhằm giúp sinh viên được tiếp cận với chương trình đào tạo tiên tiến, thực tập với những công nghệ hiện đại, được sử dụng tài liệu mới cập nhật và học tập trong điều kiện chất lượng cao. Qua đó, sinh viên có khả năng phân tích, ngăn chặn sự cố cho mạng máy tính và các hệ thống thông tin lớn.
  • Đào tạo Sau đại học: UIT đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ chương trình đào tạo tiên tiến về CNTT. Trường đẩy mạnh hợp tác với các cơ sở nghiên cứu CNTT hàng đầu trong khu vực và thế giới. Hoạt động đào tạo trình độ sau đại được tổ chức theo hướng gắn kết chặt chẽ với các phòng thí nghiệm và các nhóm nghiên cứu, các chương trình phát triển CNTT-TT, các đề tài, dự án quốc gia, quốc tế và khu vực.
    • Ngành đào tạo:Thạc sĩ ngành khoa học máy tính và công nghệ thông tin; Tiến sĩ ngành khoa học máy tính và công nghệ thông tin.
    • Trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành năm 2014, giúp người học bổ sung, cập nhật và nâng cao kiến thức theo chuẩn đầu ra; tăng cường kiến thức liên ngành; có kiến thức chuyên sâu trong một lĩnh vực khoa học hoặc có kỹ năng vận dụng kiến thức vào các hoạt động thực tiễn nghề nghiệp; có khả năng làm việc độc lập. Các Câu lạc bộ, đội nhóm sinhv ực phát triển, giải quyết những vấn đề trong lĩnh vực thuộc ngành đào tạo.
    • Sử dụng chương trình tiên tiến về CNTT của các đại học trong nước. [cần dẫn nguồn]

Phương thức tổ chức giảng dạy[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp giảng dạy đã và đang hướng đến:

  • Sử dụng hệ thống tín chỉ.
  • Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, đưa công nghệ trực tuyến vào giảng dạy, tổ chức các buổi thảo luận trao đổi trực tuyến qua mạng nhằm tận dụng công nghệ trực tuyến để đưa chất xám của các chuyên gia trong và ngoài nước nhanh chóng đến với sinh viên.
  • Công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong quá trình tổ chức đào tạo, thay đổi nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại và bám sát các yêu cầu của thực tiễn, đồng thời tăng cường khả năng sử dụng tiếng Anh cho sinh viên.
  • Sinh viên được cấp tài khoản truy cập hệ thống bài giảng môn học.

Cấu trúc chương trình: Chương trình được phân bố hợp lý giữa lý thuyết và thực hành, sinh viên từ năm thứ 3 có thể tham gia các đề tài nghiên cứu và chuyển giao Công nghệ.

Nghiên cứu khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Các hướng nghiên chiến lược[sửa | sửa mã nguồn]

  • An toàn thông tin (Information Security);
  • Thiết kế vi mạch (VLSI Design)

Các hướng nghiên cứu và chuyển giao công nghệ khác:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kỹ nghệ tri thức (Knowledge Engineering)
  • Xử lý tín hiệu (Signal Processing);
  • Xử lý đa phương tiện (Multimedia Processing);
  • An toàn mạng (Network Security);
  • Hệ thống nhúng (Embedded System);
  • Giao thức mạng máy tính (Computer Network Protocols);
  • Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information Systems-GIS);
  • Mạng di động (Mobile network).

Quan hệ đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

  • Có mạng lưới đối tác chiến lược và nghiên cứu khoa học
  • Có quan hệ mật thiết với các doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông
  • Có mạng lưới cựu giáo chức và cựu sinh viên mạnh

Các Đối tác tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường Đại học /Viện Nghiên cứu
  1. Đại học bang Oklahoma - Hoa Kỳ (Oklahoma State University)
  2. Viện Cơ học và Tin học Ứng dụng
  3. Đại học Soongsil - Hàn Quốc (Soongsil University)
  4. Đại học Kỹ thuật Wroclaw - Ba Lan (Wroclaw University of Technology)
  • Doanh nghiệp
  1. Axon Active Vietnam
  2. CSC Vietnam
  3. Global CyberSoft Vietnam
  4. Nuvoton Technology Corporation - Đài Loan
  5. IBM
  6. Larion Computing
  7. FPT Sotfware
  8. Renasas Design Vietnam
  9. TMA Solution
  10. VNG

Các Khoa và Bộ môn[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa

Bộ môn

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Các hoạt động cụ thể mà sinh viên UIT đã tham dự từ 2009 đến nay:

  • Cuộc thi Olympic Tin học Sinh viên Việt Nam (OLP): do Hội Tin học Việt Nam tổ chức hằng năm dành cho các bạn sinh viên đến từ các trường đại học Việt Nam.  Cuộc thi giúp nuôi dưỡng niềm đam mê công nghệ thông tin trong sinh viên và thúc đẩy các hoạt động của cộng đồng sinh viên Việt Nam.
  • Hội thi Tin học trẻ (YIF): là cuộc thi dành cho các bạn sinh viên yêu thích về công nghệ thông tin
  • Cuộc thi lập trình di động ‘Mobile Innovation Challenge’ 2013: do tổ chức mLab Đông Á thực hiện.  Cuộc thi đã tạo cơ hội cho các bạn sinh viên đưa sáng kiến của mình để lập trình những ứng dụng trên các thiết bị di động.
  • Giải thưởng Công nghệ Thông tin &Truyền thông do Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức: giải thưởng này được trao hằng năm kể từ năm 2008 để vinh danh các cá nhân và tổ chức đã có những đóng góp về công nghệ thông tin tại Việt Nam.
  • Hội nghị Khoa học trẻ UIT do Trường Đại học Công nghệ Thông tin tổ chức hằng năm, là diễn đàn để các bạn sinh viên UIT tham gia nghiên cứu khoa học.
  • Các giải thưởng tiêu biểu đã đạt được qua các năm:
  1. 2015  : Giải thưởng Sao Tháng Giêng tiêu biểu toàn quốc dành cho cán bộ Hội năm 2014
  2. 2015              : Danh hiệu Sinh viên 5 tốt cấp Trung ương (SV Nguyễn Trí Hải) năm 2014
  3. 2013 -2014    : Giải nhất Cuộc thi Quốc gia "Sinh viên với an toàn thông tin" năm 2013 và 2014
  4. 2014              : Giải nhất, nhì và ba Cuộc thi Olympic Vi Điện tử Quốc tế TKVM Armeni
  5. 2014              : Giải nhì đồng đội Cuộc thi Lập trình xe đua tự động "BKIT Car Rally 2014" (BCR 2014)
  6. 2014              : Giải nhất Cuộc thi Ứng dụng Vi điều khiển
  7. 2014              : Giải nhất Cuộc thi 24h Sáng tạo- Ứng dụng công nghệ vào việc dạy và học tại Việt Nam
  8. 2014              : Giải thưởng Hồ Hảo Hớn năm 2014 về Chương trình “Máy tính cũ- Tri thức mới”
  9. 2013              : 1 giải thưởng tại Cuộc thi Công nghệ Thông tin và Truyền thông 2013
  10. 2013              : 1 giải nhất Cuộc thi lập trình di động ‘Mobile Innovation Challenge’ 2013
  11. 2012              : 2 giải khuyến khích trong Hội thi Tin học trẻ 2012
  12. 2009 – 2013: 7 giải thưởng OLP

Tuyển sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học công nghệ thông tin.JPG

Hằng năm, hệ cử nhân chính quy được tuyển sinh bằng kì thi quốc gia.

Thông thường, chỉ tiêu của mỗi ngành khoảng 120 đến 150 sinh viên. Khi hoàn tất xây dựng cơ sở vật chất, trường sẽ xem xét tăng chỉ tiêu tuyển sinh.

  • Ký hiệu trường: QSC

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]