Trận Kraśnik

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Kraśnik
Một phần của Mặt trận phía Đông trong Chiến tranh thế giới thứ nhất
.
Thời gian 2325 tháng 8 năm 1914
Địa điểm Kraśnik, Vương quốc Lập hiến Ba Lan, Đế quốc Nga (nay thuộc Ba Lan)
Kết quả Quân Áo-Hung chiến thắng[1], Tập đoàn quân số 4 của Nga bị đánh bật.[2]
Tham chiến
 Đế quốc Áo-Hung  Đế quốc Nga
Chỉ huy
Cờ của Đế chế Áo-Hung Conrad von Hötzendorf[3]
Cờ của Đế chế Áo-Hung Viktor Dankl[4]
Flag of Russia A. J. Salza[4]
Lực lượng
Cờ của Đế chế Áo-Hung Tập đoàn quân số 1[4]
144 Tiểu đoàn Bộ binh
71 Sư đoàn Kỵ binh
354 hoả pháo[5]
Flag of Russia Tập đoàn quân số 4[4]
104 Tiểu đoàn Bộ binh
100 Sư đoàn Kỵ binh
350 hỏa pháo[5]
Tổn thất
  6.000 quân bị bắt (trong số đó Sĩ quan) cùng với 28 hỏa pháo [6][7]
.

Trận Kraśnik là một trận giao tranh giữa Quân đội Đế quốc Áo-HungĐế quốc Nga trong trận Galicia của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, diễn ra từ ngày 23 tháng 8 cho đến ngày 25 tháng 8 năm 1914.[1][3] Trong trận đánh này, Tập đoàn quân số 1 của Áo dưới sự chỉ huy của tướng Victor Dankl đã bọc sườn và buộc Tập đoàn quân số 2 của Nga dưới quyền tướng Anton Jegorowitsch Saltza phải rút lui.[4] Về mặt chiến thuật và chiến dịch, chiến thắng này chứng tỏ cơ cấu đào luyện của Tổng tham mưu trưởng Franz Graf Conrad von Hötzendorf trong thời bình và cho thấy những đội hình ban đầu của quân Áo-Hung không hề thua kém quân Nga[3]. Các Sĩ quan Nga bị bắt làm tù binh trong trận Kraśnik đã mô tả về sức tấn công khủng khiếp của Quân đội Áo-Hung.[4]

Ngoài ra, thắng lợi tại Kraśnik cũng đem lại cho Conrad một cơ hội để tìm kiếm sự định đoạt tình hình xa về phía Đông và là bước tiến đầu tiên trong kế hoạch hợp vây Siedlce ở miền Trung Ba Lan của ông. Thêm nữa, thất bại này đã dẫn đến việc Salza bị huyền chức.[1][3] Sau thắng lợi, quân Áo bắt đầu tiến về Lublin.[8] Chiến thắng này cũng khiến cho Dankl trở thành một trong những vị anh hùng đầu tiên của nước Áo trong chiến tranh và được phong cấp bậc quý tộc, khiến ông trở thành “Dankl von Kraśnik”.[7] Trên đà thắng lợi, Tập đoàn quân số 4 của Áo cũng gần như hợp vây Tập đoàn quân số 5 của Nga trong trận Komarów không lâu sau đó.[4] Nhưng sau này những thắng lợi của quân Nga về phía Đông Tập đoàn quân số 1 của Áo đã buộc Dankl phải rút quân khỏi sông San về vùng Galicia thuộc Áo vào tháng 9 năm 1914.[3]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â William R. Griffiths, The Great War, trang 50
  2. ^ Richard Ernest Dupuy, Trevor Nevitt Dupuy, The encyclopedia of military history: from 3500 B.C. to the present, trang 943
  3. ^ a ă â b c Spencer Tucker, World War I: A - D., Tập 1, trang 650
  4. ^ a ă â b c d đ Lawrence Sondhaus, World War One: The Global Revolution, trang 4
  5. ^ a ă Österreichisches Bundesministerium für Heereswesen vom Kriegsarchiv. "Österreich-Ungarns letzter Krieg 1914-1918. Erster Band": p.184
  6. ^ Spencer C. Tucker, Priscilla Mary Roberts, World War I: A Student Encyclopedia, trang 548
  7. ^ a ă Lawrence Sondhaus, 'Franz Conrad Von Hötzendorf: Architect of the Apocalypse, trang 154
  8. ^ David F. F. Burg, L. Edward Edward Purcell, Almanac of World War I

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]