Triatominae

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triatominae
Pgeniculatus2.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Lớp (class) Insecta
Bộ (ordo) Hemiptera
Họ (familia) Reduviidae
Phân họ (subfamilia) Triatominae
Jeannel, 1919
Tông

Triatominae /traɪ.əˈtɒmɨniː/, Reduviidae, còn có những tên khác như bọ xít hút máu, Bọ Conenose, bọ ám sát, và danh pháp khoa hoc là một phân họ côn trùng trong họ Reduviidae. Hầu hết trong số 130 loài hoặc nhiều hơn là haematophagous sống bằng máu của các Động vật có xương sống; một số ít các loài khác lại sống nhờ các động vật không xương sống(Sandoval et al. 2000, 2004). Chúng được tìm thấy chủ yếu ở châu Mỹ, số ít khác ở châu Á (mới xuất hiện tại Việt Nam), châu Phichâu Úc. Những loài này thường sống thành tổ và nương tựa vào các động vật có xương sống, để dễ dàng hút máu.

Phát hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đầu Thế kỷ 19 Charles Darwin đã có báo cáo đầu tiên về sự tồn tại của bọ xít hút máu ở châu Mỹ trong cuốnJournal and Remarks, thường được biết đến với tên The Voyage of the Beagle. Dưới đây là đoạn trích trong báo cáo ông viết vào ngày 25 tháng 3 năm 1835:

"Chúng tôi vượt sông Luxan, rộng đáng kể, nhưng con sông này lại không đổ ra biển gây nhiều nghi ngờ như: sau khi vượt qua vùng đồng bằng, nó bốc hơi hết và biến mất. Chúng tôi ngủ tại một ngôi làng Luxan nhỏ được bao quanh đều là rừng, nghiên cứu một chút. Cho tới đêm, tôi đã bị nó tấn công, một loài của Reduvius, một con bọ đen to của Pampas. Thật là kinh tởm đối với một loài bọ không có cánh, dài khoảng một inch, và luôn bò trên cơ thể. Trước khi hút máu, nó trông rất bé và mỏng, nhưng sau đó trở nên to tròn lên trông thấy và chứa đầy máu. Nếu để chúng lên một cái bàn, rồi để tay lên đó, ngay lập tức, chúng sẽ bò tới hút máu. Tuy nhiên, không để lại vết thương gì. Chúng tôi tò mò khi xem thân của nó trong khi hút máu, khoảng dưới mười phút, đã chuyển từ thân dẹt,bé sang thành dạng hình cầu. Sau "bữa tiệc" này, chúng có thể nhịn trong nhiều tháng; nhưng, chỉ sau một đêm tiêu hóa, chúng đã sẵn sàng để đi hút máu rồi."

--- Chú ý: Luxan là Luján de Cuyo.

Đã có một số lượng lớn các nghiên cứu khoa học giữa bản thống kê về triatomine ở Argentina với cơn ốm nặng của ông sau đó ít lâu.

Sự khám phá ra triatomine và bệnh Chagas[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1909, bác sĩ người Brasil Carlos Chagas đã tìm ra các loài côn trùng có liên quan đến rất nhiều bệnh có tên là T. cruzi xảy ra trên các bệnh nhân ở Lassance, một ngôi làng bên bờ của sông São FranciscoMinas Gerais (Brasil). Những người nghèo sống ở đây phàn nàn rằng có một số loại côn trùng mà họ gọi là barbeiros thường cắn vào

buổi đêm. Carlos Chagas đã ghi lại những theo dõi của mình đầu tiên vào quyển:

"Knowing the domiciliary habits of the insect, and its abundance in all the human habitations of the region, we immediately stayed on, interested in finding out the exact biology of the barbeiro, and the transmission of some parasite to man or to another vertebrate".

Một người Brazil khác, Herman Lent, sinh viên cũ của Carlos Chagas, có công lớn trong việc nghiên cứu triatomi cùng với Peter Wygodzinsky để tạo ra bảng Tổng kết về Triatominae [1]. Đây là thành quả học nghiên cứu trong suốt 40 năm cho tới năm 1989.

Diện mạo bề ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Các giai đoạn phát triển của bọ xít

Vòng đời[sửa | sửa mã nguồn]

Triatomines trải qua giai đoạn lột xác không hoàn toàn. Một con nhộng hình sao không cánh nở ra từ một quả trứng, chỉ bằng đầu của một cái nĩa. Nó lần lượt mọc ra 1 cánh, 2 cánh... đầy đủ 5 cánh. Sau cùng, Sau đó chúng trưởng thành,và có thêm 2 cánh.

Sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các con nhộng triatomine và con trưởng thành đều là hút máu và phụ thuộc vào môi trường bên ngoài. Đa số bám theo các loài động vật có xương sống và có tên là "sylvatic" triatomine. Chúng sống trong các hang đất cùng các động vật gặm nhấm hoặc armadillo, một loài động vật họ Dasypodiade, hoặc sống trên cây cùng với dơi, chim, lười or opossum, thú có túi thuộc họ Phalangeridae. Một số ít (5%) trú ngụ trong các con nhà của con người (peridomicile) ẩn nấp trong các con thú nuôi.

Cấu tạo cơ thể

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả triatomine chui rúc, lẩn trốn ban ngày và đi hút máu và ban đêm trong khi vật chủ đang ngủ trong những đêm mát trời. Nhiệt tỏa ra từ vật chủ sẽ dẫn đường cho triatomine. Khí CO2 tỏa ra trong quá trình thở, hoặc NH3, các chuỗi amin ngắn và axit carboxylic từ da, tóc và tuyến ngoại tiết từ các động vật có xương sống, đều là các chất dễ bay hơi và rất hấp dẫn triatomine. Ánh sáng cũng giúp triatomine để định hướng.

Các con trưởng thành sẽ phát ra một mùi cay, hôi (axit isobutyric) khi cảm thấy bị đe dọa, và có khả năng phát ra âm thanh bằng cách cọ xát mũi ở một cái khe nhỏ dưới đầu.

Tác động đến các loài vật khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các loài gia súc, gia cầm, động vật hoang dã đều có thể bị Chagas ký sinh đem lại mối đe dọa cho loài người, Một số loài thú và chim lại có thể miễn nhiễm được đối với sự ký sinh này. Những con ký sinh này thường lây sang người khi ta hôn những con thú cưng, chăm sóc gia súc, gia cầm.

Triatomines rất đặc trưng bởi 2 loại phân dính trên tường, có màu trắng cùng axit uric, loại còn lại tối hơn, có màu đen. Trứng có màu trăng nhạt, hồng nhạt có thể nhìn thấy trên các kẽ nứt của tường. Sau khi hút no máu, chúng to hơn và rất dễ bị phát hiện.

Tribes, Genera và một số loài khác[sửa | sửa mã nguồn]

Những bệnh con người mắc phải[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả 138 loài Triatominae đều ẩn chứa virus, và truyền cho người T. cruzi gây các triệu trứng sốt, ốm, mệt mỏi, muốn ngủ nhiều.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy loài bọ xít này không phân bố chủ yếu ở Việt Nam nhưng năm 2012, loài bọ xít này xuất hiện đồng loạt trên diện rộng ở Việt Nam, nó di cư sang châu Á và Việt Nam bằng đường du lịch, sau khi xâm nhập và phát triển, bọ xít này đã cắn, đốt người dân nước này gây xôn xao dư luận, bọ xít này xuất hiện được ghi nhận tại loài côn trùng này đã có mặt ở 20 tỉnh, thành như Quy Nhơn, Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Thiết[1][2][3][4][5][6][7][8] Loài bọ xít này Sinh sản nhanh, kháng thuốc trừ sâu, tạo lập được tập tính sống gần con người.[9]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Fernando Otálora-Luna]