Vladimir Semyonovich Vysotsky

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vladimir Vysotsky
Vladimir Vysotsky.jpg
Vladimir Vysotsky, 1979.
Thông tin nghệ sĩ
Sinh 25 tháng 1, 1938(1938-01-25)
Nguyên quán Moskva, Liên Xô
Mất 25 tháng 7, 1980 (42 tuổi)
Nghề nghiệp Ca sĩ, Bard, Nhạc sĩ, Diễn viên
Thể loại Bard
Chanson
Nhạc cụ Giọng hát, Guitar
Năm 1959–1980

Vladimir Semyonovich Vysotsky (tiếng Nga: Влади́мир Семёнович Высо́цкий, Vladimir Semyonovich Vysotskyj') (25 tháng 1, 1938, Moskva, Liên Xô – 25 tháng 7, 1980, Moskva, Liên Xô) là một hình tượng Xô viết và ca sĩ, nhạc sĩ, nhà thơ và diễn viên người Do TháiNga.[1] Vladimir Vysotsky được coi là một trong những nhà thơ lón nhất của Nga thế kỷ XX. Tên của ông đã được đặt cho các vệ tinh nhân tạo.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vladimir Vysotsky sinh và mất đều ở thủ đô Moskva. Nguồn gốc và chủng tộc hiện vẫn có những ý kiến khác nhau. Từ thời ông bà, và ngay cả bố của Vysotsky vẫn có hai giả thiết. Họ là người ở tỉnh Bretsk, một tỉnh giáp với Ba Lan và nay thuộc cộng hòa Belarus.

Tuổi thơ ở thủ đô Moskva. Những năm thế chiến II, từ 1941 đến 1943, sơ tán về tỉnh Chkalov (nay là tỉnh Orenburg). Năm 1947 bố và mẹ ly dị, Vladimir về sống với bố và vợ hai của bố. Những năm 1947 – 1949 sống ở Đức – là nơi mà bố của Vladimir làm việc. Ở đây Vladimir bắt đầu học đàn dương cầm.

Hình Vladimir Vysotsky trên tem thư, 1999

Năm 1956 học trường Đại học Kỹ sư xây dựng nhưng được một học kỳ thì bỏ. Sau đó vào học trường Nghệ thuật Moskva từ 1956 – 1960. Sau khi tốt nghiệp Vladimir Visotsky bắt đầu cuộc đời nghệ sĩ đầu tiên ở nhà hát Puskin, sau đó là nhà hát Taganka. Vladimir Visotsky tham gia hàng chục vai diễn trong hàng chục bộ phim, trong đó có nhiều bộ phim nổi tiếng thế giới.

Vladimir Vysotsky biết làm thơ từ nhỏ. Ông sáng tác tất cả hơn 600 bài thơ và bài hát. Trong số này có rất nhiều bài hát viết cho phim và kịch. Ngoài thơ, ông còn viết văn xuôi, kịch bản sân khấu, phim và truyện cổ tích. Ông sáng tác nhạc từ năm 1960 cho những bài thơ của mình. Những bài hát của ông được tuổi trẻ cả nước hát và ông cũng thường xuyên đi biểu diễn ở nước ngoài, đặc biệt là ở các nước Phương Tây.

Vladimir Vysotsky kết hôn ba lần. Hai người vợ đầu tiên được khoảng 5 năm. Người cuối cùng, từ năm 1970 đến cuối đời. Người vợ đầu tiên có một đứa con trai và mang họ Vysotsky nhưng thực ra là con của người đàn ông khác.

Những năm cuối đời ông trở thành thần tượng của giới trẻ Xô Viết, đặc biệt nổi tiếng ở thập niên cuối cùng. Vladimir Vysotsky mất ngày 25 tháng 7 năm 1980 ở Moskva. Cả nước khóc cái chết của ông. Đám tang của ông có hàng chục nghìn người tham dự. Mặc dù vậy, sự thừa nhận chính thức chỉ đến với ông sau khi chết. Ông được công nhận Nghệ sĩ công huân của Liên bang Nga năm 1986. Năm 1987 ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô.

Sau khi mất, toàn bộ sáng tác của ông được in thành sách và ghi thành nhiều bộ đĩa cả ở Liên Xô cũng như ở nhiều nước trên thế giới. Thơ và bài hát của ông hiện tại đã được dịch ra 52 thứ tiếng trên thế giới. Tiếng Việt có bản dịch của Nguyễn Viết Thắng với khoảng 30 bài.

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Wladimir Wyssozki. Aufbau Verlag 1989 (DDR): Zerreißt mir nicht meine silbernen Saiten....
  • Vysotsky, Vladimir (1990): Hamlet With a Guitar. Moscow, Progress Publishers. ISBN 5-01-001125-5
  • Vysotsky, Vladimir (2003): Songs, Poems, Prose. Moscow, Eksmo. ISBN
  • Vysotsky, Vladimir / Mer, Nathan (trans) (1991): Songs & Poems. ISBN 0-89697-399-9
  • Vysotsky, Vladimir (1991): I Love, Therefore I Live. ISBN 0-569-09274-4
  • Vlady, Marina (1987): Vladimir ou Le Vol Arrêté. Paris, Ed. Fayard. ISBN 2-213-02062-0 (Vladimir or the Aborted Flight)
      • Влади М. Владимир, или Прерванный полет. М.: Прогресс, 1989.
  • Vlady, Marina / Meinert, Joachim (transl) (1991): Eine Liebe zwischen zwei Welten. Mein Leben mit Wladimir Wyssozki. Weimar, Aufbau Verlag. ISBN

Trích một số bài thơ đã dịch ra tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Người đẹp được yêu thường xuyên, cần mẫn hơn
 
Người đẹp được yêu thường xuyên, cần mẫn hơn
Ít, nhưng nhanh hơn – với người vui vẻ
Hiếm khi được yêu – những người lặng lẽ
Nhưng nếu được yêu thì mạnh mẽ hơn.
 
Bạn đừng gào lên những lời dịu dàng
Mà hãy giữ chúng trong vòng tù hãm
Mặc những con tàu gào rống trong đêm
Nhưng còn bạn thì giữ bề im lặng
Vội vã – thì đi tìm gió ngoài đồng.
 
Nàng đang đọc những cuốn tiểu thuyết buồn
Để nàng so sánh, bạn thì tin tưởng
Vì rằng có những bông tuy líp đen
Để người ta ngỡ trắng hơn màu trắng.
 
Bạn đừng gào lên những lời dịu dàng
Mà hãy giữ chúng trong vòng tù hãm
Mặc những con tàu gào rống trong đêm
Nhưng còn bạn thì giữ bề im lặng
Vội vã – thì đi tìm gió ngoài đồng.
 
Lời chạy nhảy, bị gò bó – thế nhưng
Bạn đừng bao giờ sợ rằng chậm trễ.
Lời có nhiều, nhưng nếu như có thể
Chỉ nói khi bạn không thể nào không.
 
Bạn đừng gào lên những lời dịu dàng
Mà hãy giữ chúng trong vòng tù hãm
Mặc những con tàu gào rống trong đêm
Nhưng còn bạn thì giữ bề im lặng
Vội vã – thì đi tìm gió ngoài đồng.
 
Tôi yêu em bây giờ…
 
Tôi yêu em bây giờ
Công khai – không hề bí mật
Cháy trong ánh sáng của em – không "sau", không "trước".
Cười hay khóc, nhưng tôi yêu bây giờ
Trong quá khứ - không muốn, còn tương lai – không biết.
 
Trong quá khứ là "tôi đã yêu em" –
Đau buồn hơn cả ngôi mộ người đã chết
Tất cả sự dịu dàng trong tôi như bị trói tay chân
Mặc dù nhà thơ của mọi nhà thơ từng viết:
"Tôi đã yêu em, và có lẽ tình…"
 
Người ta nói như thế về cái đã héo tàn
Và trong đó lòng trắc ẩn có nghĩa là độ lượng
Giống như đối với ông vua đã bị truất quyền.
Trong đó có lòng thương về sự khao khát không còn
Nơi mà sự khát khao đã không còn nhanh nhẹn
Và có vẻ như không tin đối với "tôi yêu em".
 
Tôi yêu em bây giờ –
Không vết nhơ, không mất mát
Thế kỷ của tôi là bây giờ - tôi không cắt tĩnh mạch!
Trong thời gian, trong sự tiếp tục, bây giờ -
Tôi không thở bằng quá khứ và tương lai không cuồng nhiệt.
 
Tôi bơi qua, lội qua và đi đến
Với em – dù cho có bị chặt đầu!
Với xích dưới chân và những quả cân trọng lượng
Chỉ mong em đừng bắt ép gì nếu em nhầm lẫn
Để sau "tôi đang yêu" tôi thêm vào "sẽ vẫn còn yêu".
 
Có cay đắng trong "tôi sẽ", mới lạ lùng sao
Chữ ký giả mạo và lỗ đục sâu
Và khe hở rút lui để làm dự trữ
Dưới tận đáy ly sâu nọc độc không màu.
Và giống như điều sỉ nhục cho thì hiện tại
Nghi ngờ "tôi đang yêu" ngay lúc này sao.
 
Tôi nhìn giấc mơ Pháp
Với đủ kiểu thời gian
Nơi mà cả quá khứ lẫn tương lai đều khác.
Tôi cảm thấy như đang bêu xấu mình
Trước hàng rào ngôn ngữ tôi đành bất lực.
 
Ái chà, sự khác biệt trong nhiều ngôn ngữ
Không có vị trí – mà thất bại hoàn toàn
Nhưng lối thoát cả hai đứa sẽ đi tìm.
Tôi yêu em và trong những thời gian phức tạp –
Và trong tương lai, và ở trong quá khứ này em.
 
Bài ballad về Tình yêu
 
Khi dòng nước của cơn Đại hồng thủy
Quay trở lại lần nữa với bến bờ
Thì từ bọt của dòng nước xưa kia
Tình yêu thoát lên bờ trong lặng lẽ
Và tan trong không khí đến hạn kỳ
Mà hạn kỳ thì có nhiều vô kể.
 
Và hãy vẫn còn những người ngớ ngẩn
Thở đầy căng cái thứ hỗn hợp này
Họ không chờ hình phạt hay phần thưởng
Mà chỉ nghĩ rằng hít thở vậy thôi
Họ rơi vào nhịp thở không bằng phẳng
Nhịp thở như vầy – nhịp thở chơi vơi.
 
Tôi trải giường cho những kẻ đang yêu
Để họ hát cả ngoài đời, trong mộng!..
Tôi đang thở – nghĩa là tôi đang yêu!
Tôi đang yêu – nghĩa là tôi đang sống!
 
Và sẽ có nhiều giang hồ phiêu bạt:
Xứ sở tình yêu, xứ sở mênh mông!
Tình thử thách những hiệp sĩ của mình
Cứ mỗi ngày vặn hỏi càng nghiêm khắc:
Tình đòi hỏi chia ly và khoảng cách
Không nghỉ ngơi, không cho ngủ cho yên.
 
Nhưng không quay lại những kẻ điên cuồng
Mà họ bằng lòng trả bằng mọi giá
Sẵn sàng mạo hiểm cả cuộc đời mình
Để cho không làm rách và để giữ
Sợi chỉ thần tiên, sợi chỉ vô hình
Mà người ta đã căng ra giữa họ.
 
Tôi trải giường cho những kẻ đang yêu
Để họ hát cả ngoài đời, trong mộng!..
Tôi đang thở – nghĩa là tôi đang yêu!
Tôi đang yêu – nghĩa là tôi đang sống!
 
Nhưng có khối kẻ chết ngạt vì tình
Gọi tình yêu nhưng chưa từng gọi đến
Biết bao nhiêu trống vắng với tin đồn
Nhưng tổng số này ngâm trong máu nóng.
Còn ta đặt những ngọn nến đầu giường
Thờ những kẻ chết mà chưa được nhận.
 
Linh hồn họ trong cỏ hoa thơ thẩn
Giọng nói rồi sẽ hòa nhập cùng nhau
Và một nhịp thở cùng chung vĩnh viễn
Thổn thức trên môi – khi họ gặp nhau
Trên bến đò ngang run rẩy, trên cầu
Và trên những ngã tư đời chật lắm.
 
Cơn gió mát làm say người được chọn
Quấn bàn chân, làm người chết hồi sinh
Bởi vì rằng, nếu như bạn chưa từng
Yêu – nghĩa là chưa thở và chưa sống.
 
Khúc ca về nhà tiên tri Cassandra[2]
 
Thành Tơ-roa lâu ngày bị bao vây
Vẫn trở thành một pháo đài đứng vững
Nhưng dân Tơ-roa đã không tin tưởng.
Nếu không, đã còn cho đến ngày nay.
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
 
Trong cái đêm từ bụng con ngựa gỗ
Cái chết đi ra (như có cánh bay)
Trên đám đông hoảng loạn và cuồng si
Ai đó kêu: "Lỗi lầm do phù thủy!"
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
 
Trong đêm hoảng loạn, trong cái chết này
Khi lời dự báo trở thành hiện thực
Giá mà đám đông tìm ra một phút
Để trừng phạt cho cái thói quen này.
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
 
Kết cục giản đơn – dù bất thường, đáng giận:
Một người Hy Lạp tìm ra Cassandra
Nhưng dùng không như Cassandra, mà
Như người chiến thắng giản đơn, nhàm chán.
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
Красивых любят чаще и прилежней
 
Красивых любят чаще и прилежней,
Веселых любят меньше, но быстрей, -
И молчаливых любят, только реже,
Зато уж если любят, то сильней.
 
Не кричи нежных слов, не кричи,
До поры подержи их в неволе, -
Пусть кричат пароходы в ночи,
Ну а ты промолчи, промолчи, -
Поспешишь - и ищи ветра в поле.
 
Она читает грустные романы, -
Ну пусть сравнит, и ты доверься ей, -
Ведь появились черные тюльпаны -
Чтобы казались белые белей.
 
Не кричи нежных слов, не кричи,
До поры подержи их в неволе, -
Пусть кричат пароходы в ночи,
Ну а ты промолчи, промолчи, -
Поспешишь - и ищи ветра в поле.
 
Слова бегут, им тесно - ну и что же! -
Ты никогда не бойся опоздать.
Их много - слов, но все же если можешь -
Скажи, когда не можешь не сказать.
 
Не кричи нежных слов, не кричи,
До поры подержи их в неволе, -
Пусть кричат пароходы в ночи,
Ну а ты промолчи, промолчи, -
Поспешишь - и ищи ветра в поле.
 
Люблю тебя сейчас...
 
Люблю тебя сейчас,
не тайно - напоказ.
Не «после» и не «до» в лучах твоих сгораю.
Навзрыд или смеясь, но я люблю сейчас,
А в прошлом - не хочу, а в будущем - не знаю.
 
В прошедшем «я любил» -
печальнее могил, -
Все нежное во мне бескрылит и стреножит,
Хотя поэт поэтов говорил:
«Я вас любил, любовь еще, быть может...»
 
Так говорят о брошенном, отцветшем -
И в этом жалость есть и снисходительность,
Как к свергнутому с трона королю.
Есть в этом сожаленье об ушедшем
Стремленьи, где утеряна стремительность,
И как бы недоверье к «я люблю».
 
Люблю тебя теперь -
без пятен, без потерь,
Мой век стоит сейчас - я вен не перережу!
Во время, в продолжение, теперь -
Я прошлым не дышу и будущим не брежу.
 
Приду и вброд, и вплавь
к тебе - хоть обезглавь! -
С цепями на ногах и с гирями по пуду.
Ты только по ошибке не заставь,
Чтоб после «я люблю» добавил я «и буду».
 
Есть горечь в этом «буду», как ни странно,
Подделанная подпись, червоточина
И лаз для отступленья, про запас,
Бесцветный яд на самом дне стакана.
И словно настоящему пощечина, -
Сомненье в том, что «я люблю» сейчас.
 
Смотрю французский сон
с обилием времен,
Где в будущем - не так, и в прошлом - по-другому.
К позорному столбу я пригвожден,
К барьеру вызван я - языковому.
 
Ах, разность в языках!
Не положенье - крах!
Но выход мы вдвоем поищем - и обрящем.
Люблю тебя и в сложных временах -
И в будущем, и в прошлом настоящем!
 
Баллада о Любви
 
Когда вода Всемирного потопа
Вернулась вновь в границы берегов,
Из пены уходящего потока
На берег тихо выбралась Любовь -
И растворилась в воздухе до срока,
А срока было - сорок сороков...
 
И чудаки - еще такие есть -
Вдыхают полной грудью эту смесь,
И ни наград не ждут, ни наказанья, -
И, думая, что дышат просто так,
Они внезапно попадают в такт
Такого же - неровного - дыханья.
 
Я поля влюбленным постелю -
Пусть поют во сне и наяву!..
Я дышу, и значит - я люблю!
Я люблю, и значит - я живу!
 
И много будет странствий и скитаний:
Страна Любви - великая страна!
И с рыцарей своих - для испытаний -
Все строже станет спрашивать она:
Потребует разлук и расстояний,
Лишит покоя, отдыха и сна...
 
Но вспять безумцев не поворотить -
Они уже согласны заплатить:
Любой ценой - и жизнью бы рискнули, -
Чтобы не дать порвать, чтоб сохранить
Волшебную невидимую нить,
Которую меж ними протянули.
 
Я поля влюбленным постелю -
Пусть поют во сне и наяву!..
Я дышу, и значит - я люблю!
Я люблю, и значит - я живу!
 
Но многих захлебнувшихся любовью
Не докричишься - сколько не зови, -
Им счет ведут молва и пустословье,
Но этот счет замешан на крови.
А мы поставим свечи в изголовье
Погибших от невиданной любви...
 
И душам их дано бродить в цветах,
Их голосам дано сливаться в такт,
И вечностью дышать в одно дыханье,
И встретиться - со вздохом на устах -
На хрупких переправах и мостах,
На узких перекрестках мирозданья.
 
Свежий ветер избранных пьянил,
С ног сбивал, из мертвых воскрешал, -
Потому что если не любил -
Значит, и не жил, и не дышал!
 
Песня о вещей Кассандре
 
Долго Троя в положении осадном
Оставалась неприступною твердыней.
Но троянцы не поверил Кассандре.
Троя, может быть, стояла б и поныне.
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.
 
И в ночь, когда из чрева лошади на Трою
Спустилась смерть (как и положено, крылата),
Над избиваемой безумною толпою
Кто-то крикнул: "Это ведьма виновата!"
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.
 
И в эту ночь, и в эту смерть, и в эту смуту, -
Когда сбылись все предсказания на славу,
Толпа нашла бы подходящую минуту,
Чтоб учинить свою привычную расправу.
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.
 
Конец простой - хоть необычный, но досадный:
Какой-то грек нашел Кассандрину обитель
И начал пользоваться ей не как Кассандрой,
А как простой и ненасытный победитель.
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.interesniy.kiev.ua/old/7137/7143/8216/vysotskiy
  2. ^ Cassandra – nhà tiên tri người Tơ-roa. Apollo đã yêu Cassandra say đắm và ban cho Cassandra tài tiên tri, còn Cassandra thì học nghệ thuật tiên tri nhưng từ chối tình yêu của Apollo nên Apollo đã làm cho dân chúng không tin những lời tiên tri của Cassandra. Bởi thế, dân Tơ-roa không một ai tin những lời dự báo của Cassandra về sự nguy hiểm của cuộc hôn nhân giữa Helen và Paris cũng như con ngựa gỗ… Sau khi thành Tơ-roa thất thủ Cassandra bị Ajax (the Lesser) bắt và cưỡng hiếp.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]