Within Temptation

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Within Temptation
Bevrijdingsfestival 2008 - Within Tempation 02 cropped.jpg
Từ trái sang phải: Jeroen van Veen, Stephen van Haestregt, Ruud Adrianus Jolie, Sharon den Adel, Martijn Spierenburg, Robert Westerholt.
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Hà Lan
Thể loại Symphonic metal
Symphonic rock
Gothic metal[1]
Năm 1996 – nay
Hãng đĩa DSFA Records
Gun Records
Roadrunner Records
Website Official website
Thành viên hiện tại
Ruud Adrianus Jolie
Jeroen van Veen
Mike Coolen
Sharon den Adel
Martijn Spierenburg
Robert Westerholt
Thành viên cũ
Ivar de Graaf
Martijn Westerholt
Michiel Papenhove
Jelle Bakker
Ciro Palma
Dennis Leeflang
Richard Willemse
Stephen van Haestregt

Within Temptation là một nhóm nhạc chơi theo phong cách Symphonic Metal của Hà Lan. nhóm được thành lập vào năm 1996 bởi ca sĩ chính Sharon den Adel và guitar Robert Westerholt.[2] Nhóm chơi theo phong cách Symphonic Metal, hay Gothic Metal theo một số phương tiện truyền thông, mặc dù khi được phỏng vấn, Sharon den Adel nói rằng thể loại chính của họ là Symphonic Rock.[3]

Ngay sau khi phát hành album đầu tiên Enter, nhóm đã trở nên nổi bật trong giới không chính thống. Tuy nhiên phải đến năm 2001, nhóm mới trở nên quen thuộc với khán giả thế giới qua đĩa đơn "Ice Queen" từ̀ album Mother Earth, album đã đạt được vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng.[2] Sau đó, nhóm giành được giải Conamus Exportprijs[4] được tổ chức năm năm một lần. Các album tiếp theo của họ The Silent ForceThe Heart of Everything đều đứng đầu nhiều bảng xếp hạng. Album mới nhất The Unforgiving là album phòng thu thứ 5 của nhóm được phát hành tháng 3 năm 2011 cùng với 1 series truyện tranh và phim ngắn.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Hai người bạn thân Robert Westerholt (chơi guitar) và Sharon den Adel (ca sĩ chính) thành lập nhóm vào năm 1996, nhanh chóng thêm Jeroen van Veen làm bass guitar, Michiel Papenhove chơi guitar, Martijn Westerholt vào vị trí keyboard và Ivar de Graaf chơi trống. Họ nhanh chóng có được một hợp đồng biểu diễn và kí với với hãng đĩa DSFA Records[2] một năm sau đó, bắt đầu sáng tác album đầu tiên.

Enter (1997)[sửa | sửa mã nguồn]

Enter, album đầu tay, được phát hành năm 1997. Album nhận được nhiều phản hồi tốt và nhóm tham gia vào bốn tour diễn khắp cả nước, sau khi họ được mời biểu diễn tại liên hoan Dynamo Open Air[5] tại Eindhoven, một trong những liên hoan âm nhạc Heavy Metal lớn nhất Hà Lan. Tên tuổi của nhóm tăng lên vào năm 1997 khi tham gia vào tour diễn quốc tế đầu tiên, tại GermanyAustria. Sau đó Ivar de Graaf rời nhóm và thay thế anh là Ciro Palma.

Âm nhạc trong Enter rất du dương và thống thiết, chịu ảnh hưởng của Gothic Doom Metal, phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ keyboards, trống và những tiếng riff guitar cực mạnh.[6][7] Cùng nổi bật lên trong album này là thể loại Death Grunts của Robert Westerholt và các thành viên trong nhóm Orphanage.

The Dance (1998-1999)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1998 nhóm tiếp tục đi lưu diễn - họ được hoan nghênh trên sân khấu chính tại Dynamo trong sự kiện năm 1998. Tuy nhiên, Within Temptation không phát hành thêm (và cũng không có ý định phát hành album thử hai vào thời điểm đó), nhưng cuối cùng họ quyết định phát hành thêm một Đĩa dài, The Dance.

Cuối cùng, nghỉ ngơi sau chuyến lưu diễn, 1999 là một năm nghỉ hoàn toàn của nhóm. Họ nắm lấy cơ hội xây dựng một studio của mình, cũng như quay lại với mục đích của mỗi cá nhân, với kế hoạch quay lại vào năm sau

Mother Earth (2000-2003)[sửa | sửa mã nguồn]

2000 là một năm đầy sự kiện của nhóm với việc tiếp tục chuyến lưu diễn, tham gia ba liên hoan âm nhạc của Hà Lan; Waterpop, BospopLowlands. Thêm vào đấy họ tiếp tục sáng tác album thứ hai, phát hành Mother Earth tại vùng đất trũng này vào ngày 1 tháng 12. Album này là một hit, được đánh giá cao và giữ chặt vị trí của nó trên bảng xếp hạng Hà Lan.

Nhóm phát hành đĩa đơn đầu tiên Our Farewell, nhưng không được vào bảng xếp hạng. Đĩa đơn thứ hai từ album Mother Earth, Ice Queen, được đánh giá là xuất sắc của nhóm; đĩa đơn này đã leo đến hạng 4 trong bảng xếp hạng vào năm 2001[8] tại Hà Lan nhưng lại là đĩa đơn số một đầu tiên khi đứng vị trí thứ nhất tại Bỉ. Thành công này hỗ trợ cho album Mother Earth, vẫn tiếp tục thăng hạng trong bảng xếp hạng album Hà Lan, và đứng vị trí thứ ba vào cuối năm này.

Năm 2001 có một sự thay đổi về thay thành viên; Ruud Adrianus Jolie đã tham gia vào với vị trí guitar thứ hai, tay trống de Graaf được thay thế bởi Stephen van Haestregt, và Martijn Westerholt (bị bệnh truyền nhiễm) được thay thế bởi Martijn Spierenburg. Westerholt sau đó thành lập nhóm Delain.

Danh tiếng của nhóm tiếp tục tăng vào năm 2002 trong buổi diễn đầu tiên tại Pháp và cả một hợp đồng biểu diễn tại thành phố Mexico. Họ đạt được giải thưởng lớn đầu tiên, giải Silver Harp của Hà Lan. Họ đạt được danh hiệu này nhờ tham gia với tư cách khách mời trong tour diễn quốc tế lớn của nhóm Paradise Lost vào năm 2003 và phát hành lại Mother Earth với nhãn hiệu GUN Records ra thêm nhiều nước châu Âu; album này đạt được thành công lớn tại Đức, nơi nó đạt được đĩa Bạch kim và đứng thứ 7 trong bảng xếp hạng; đĩa đơn Ice Queen được phát hành lại cũng đạt được thứ hạng cao trong top 30. Nhóm nổi bật lên trong liên hoan âm nhạc toàn Hà Lan, với DVD Mother Earth đạt được giải thưởng danh giá Edison Award.

The Silent Force (2004-2006)[sửa | sửa mã nguồn]

Kế hoạch làm album thứ ba của nhóm được thực hiện vào năm 2004, với sự phát hành của album The Silent Force vào ngày 15 tháng 11 năm 2004 trên khắp châu Âu. Daniel Gibson sản phẩm của ngay lập tức đứng hạng nhất tại quê hương của nhóm và đứng thứ hạng cao trong nhiều nước châu Âu. Năm 2005, nhóm đã tham gia chuyễn lưu diễn vòng quanh lục địa để quảng cáo cho album mới (kể cả buổi diễn đầu tiên trên Vương quốc Anh tại Luân Đôn) và một buổi diễn duy nhất ở Dubai. Stand My GroundMemories, những đĩa đơn đầu tiên từ album mới, tiếp tục thành công trong bảng xếp hạng, đạt được giải Edison Award thứ hai. Stand My Ground được sử dụng để quảng cáo cho bộ phim Blood and Chocolate.

Nhóm cũng thực hiện soundtrack chính của trò chơi Knights of the Temple: Infernal Crusade phát hành năm 2004.

Thán 1 năm 2006, Within Temptation đoạt giải Dutch Pop Prize (vì có đóng góp lớn cho dòng nhạc pop của Hà Lan) và Dutch Export Prize (nhóm nhạc có số phát hành bán chạy nhất bên ngoài Hà Lan) lần thứ ba liên tiếp. Nhóm cũng thông báo rằng họ đang bận rộn sáng tác album tiếp theo, sẽ được phát hành vào mùa thu, và họ tham gia tại một liên hoan bắt đầu vào tháng 4, sau đó tiếp tục chuyến lưu diễn vào cuối năm.[9]

The Heart of Everything (2007-2009)[sửa | sửa mã nguồn]

Từ trái sang phải: Jeroen van Veen, Stephen van Haestregt, Ruud Adrianus Jolie, Martijn Spierenburg, Sharon den Adel, Robert Westerholt.

Album The Heart of Everything được phát hành vào ngày 9 tháng 3 tại Hà Lan, ngày 24 tháng 7 tại Mĩ. Ngày phát hành tại các nước khác được đăng trên trang web MySpace chính thức của họ. Hai bài hát, "The Howling""Sounds of Freedom", được ghi âm để quảng cáo cho trò chơi The Chronicles of Spellborn. Toàn bộ danh sách bài hát được công bố vào ngày 10 tháng 1.[10] Nhóm bắt đầu chuyến lưu diễn đầu tiên tại Bắc Mĩ với Lacuna Coil vào tháng 5 để quảng cáo cho album mới phát hành tại đây. Hãng Roadrunner Records cũng phát hành một album ngắn đặc biệt, The Howling, đã xuất hiện tại chuỗi cửa hàng Hot Topic, bao gồm những bài hát nổi tiếng trong album trước The Silent Force.

The Heart of Everything xếp hạng hạng 1 trong 100 album của Hà Lan, trở thành album thành công nhất của Within Temptation. Đây cũng là lần đầu tiên một nhóm nhạc Hà Lan được xếp trong bảng xếp hạng thế giới. Album đứng hạng 38, bán được 50.000 bản trong tuần đầu tiên, đứng hạng nhất tại Phần Lan, lần thứ hai đứng nhất tại Bỉ, đứng top 10 trong 8 quốc gia và top 100 trong 11 quốc gia. Tính đến ngày 30 tháng 3 năm 2007, album đã bán được 150.000 bản.

The Unforgiving (2011–nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu thứ 5 của Within Temptation được phát hành vào ngày 25 tháng 3 năm 2011 tại Hà Lan và ngày 29 tháng 3 tại Mỹ. Album được kết hợp giữa âm nhạc, tranh truyện và phim, được sản xuất bởi Daniel Gibson. Các ca khúc trong The Unforgiving được viết dựa trên một tác phẩm truyện tranh của tác giả Steven O’Connell. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album mang tựa đề Faster được phát hành vào ngày 21 tháng 1 năm 2011 cùng với đoạn phim ngắn thứ nhất "Mother Maiden"(31 tháng 1). Đoạn phim ngắn thứ hai, Sinéad ra mắt ngày 21 tháng 3, sau đó cũng xuất hiện trong phiên bản CD + DVD đặc biệt của album cùng với đoạn phim cuối cùng Triplets và video clip cho ca khúc Shot in the Dark. Ngày 15 tháng 4, nhóm ra thông báo cho biết ca khúc Sinéad đã được lựa chọn làm đĩa đơn thứ hai[11].

Hoạt động từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007 nhóm tuyên bố sẽ quyên góp toàn bộ lợi nhuận của đĩa đơn "Frozen" cho tổ chức Child Helpline International.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên đã rời nhóm[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Album live[sửa | sửa mã nguồn]

Album Videos/DVDs[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vị trí tại các bảng xếp hạng các nước Album
Phần Lan Thụy Điển Đức Hà Lan NaUy Úc Thụy Sĩ Pháp Bỉ Ba Lan
1997 "Restless" - - - - - - - - - - Enter
"Our Farewell" - - - - - - - - - - Mother Earth
2001 "Ice Queen" - - 21 2 - 53 - - 3 -
2002 "Mother Earth" - - 14 15 - - 81 - 33 -
2003 "Running Up That Hill" - - - 13 - - - - - - Running Up That Hill (EP)
2004 "Stand My Ground" 9 21 13 4 20 25 67 - 9 - The Silent Force
2005 "Memories" 19 - 17 11 - 44 45 - 26 -
"Angels" 9 - 25 8 - 50 - - 41 -
2007 "What Have You Done" 4 40 31 7 - 49 36 - 49 30 The Heart of Everything
"Frozen" - - 64 11 - - - 78 - -
"The Howling" - - - - - - - - - -
"All I Need" - - 78 13 - - - - - -
2008 "Forgiven" - - 87 9 - - - - - -
2009 "Utopia" 5 - - 52 - - 88 - 37 2 An Acoustic Night at the Theatre
2011 "Faster" - - - 11 - - - - 20 - The Unforgiving

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

2002

  • Silver Harp
  • TMF Award Holland - Most Promising Act
  • TMF Award Belgium - Best Rock (International)

2003

  • Edison - Best Live DVD: Mother Earth Tour
  • Conamus Export Award 2003

2004

  • Conamus Export Award 2004

2005

  • Edison Award - Best Band
  • TMF Awards Holland - Best Rock National
  • Popprijs 2005
  • Conamus Export Prize 2005
  • World Music Award - Best-selling Dutch Artist

2006

  • 3 FM Award - Best Rock Artist
  • Golden God (Best Video: Angels)
  • Buma Culture Export Prize 2006

2007

Đĩa vàng

  • Đĩa đơn vàng cho Ice Queen
  • Mother Earth (2001)
  • The Silent Force (December 12, 2004, Netherlands)
  • The Silent Force (Finland, 2005)

Đĩa bạch kim

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ by. “((( Within Temptation > Biography )))”. allmusic. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |TEMPTATION&sql= (trợ giúp)
  2. ^ a ă â Within Temptation. “Official Biography”. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2007. 
  3. ^ “Live Metal interview Within Temptation's Sharon den Adel: A second youth. 13 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2007. 
  4. ^ “Conamus Exportprijs”. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2007. 
  5. ^ “Dynamo Open Air History”. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2007. 
  6. ^ Farrell, Charlie. “Within Temptation at Musical Discoveries”. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2007. 
  7. ^ Bijl, Peter. “Utrechts metaltrots Orphanage uit elkaar”. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2007. 
  8. ^ http://www.top4000.nl/page/hitlijsten/2002/9/
  9. ^ http://www.roadrunnerrecords.com/blabbermouth.net/news.aspx?mode=Article&newsitemID=47539
  10. ^ Roadrunner Records
  11. ^ “Within Temptation announce second single (Sinéad)”. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011. 
  12. ^ Awards.tmf.be. Retrieved on 2007-11-02.
  13. ^ TMFAwards.nl. Retrieved on 2007-11-02.
  14. ^ Ema.mtv.nl. Retrieved on 2007-11-02;
  15. ^ Press Release 2007 Awards List and Final Communiqué. Retrieved on 2007-11-06.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phỏng vấn[sửa | sửa mã nguồn]