Yên Thành, Yên Mô

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cảnh sân golf Hoàng Gia ở Yên Thắng

Yên Thành là một xã thuộc huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình. Đây là nơi đã khai quật được di chỉ khảo cổ học Mán Bạc nổi tiếng, là nơi phát tích những người thợ gốm Bát Tràng đầu tiên và cũng là nơi gắn với địa danh lịch sử Mô Độ - kinh đô của nhà Hậu Trần. Trụ sở xã nằm cách trung tâm thành phố Ninh Bình 22 km. Đây cũng là xã được công nhận Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dânNinh Bình.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Diện tích: 8,86 km²
  • Dân số: 6166 người
  • Mật độ dân số: 696 người/km²

Địa giới hành chính:

Di chỉ Mán Bạc[sửa | sửa mã nguồn]

Di chỉ Mán Bạc ở thôn Bạch Liên, xã Yên Thành, huyện Yên Mô (Ninh Bình), thuộc hệ thống đứt gãy của dải núi đá vôi Tam Điệp chạy ra tới biển. Theo các nhà khảo cổ học, di chỉ Mán Bạc thuộc giai đoạn văn hóa cuối Phùng Nguyên, đầu Đồng Đậu, có niên đại gần 4.000 năm. Cư dân cổ Mán Bạc sống trên toàn bộ doi đất cao mà nhân dân thường gọi là Gò Vụng, được dải núi Mán Bạc bao quanh theo thế hình vòng cung tạo ra một nơi rất kín. ở đó, cư dân yên tâm sinh sống vì có thể tránh được thời tiết xấu. Năm 1999, các nhà khảo cổ Việt Nam đã tiến hành khai quật di chỉ Mán Bạc lần thứ nhất, và đã tìm thấy 5 mộ táng và 6 cá thể. Trong lần khai quật lần thứ hai, với diện tích 24m2, các nhà khảo cổ đào được 10 mộ với 11 cá thể. Người chết được chôn theo tư thế nằm ngửa, tay chân duỗi thẳng, mặt nghiêng về bên trái. Các nhà khảo cổ cũng thu được 39 chiếc rìu, 8 đục, 6 hạt chuỗi, 10 mảnh vòng, 2 bàn đập vải vỏ cây, 3 nồi gốm, 1 bát đồng, 3 hiện vật hình nấm còn khá nguyên vẹn... và hàng trăm kilogam vỏ nhuyễn thể. Đây cũng là di chỉ đầu tiên trong giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên giữ được di cốt người còn khá nguyên vẹn. Đối chứng với mẫu bào thai 8 tháng tuổi ở Viện Giải phẫu, các nhà khảo cổ đã khẳng định những di cốt được tìm thấy ở một số mộ là trẻ sơ sinh (chiếm tới 50%).[1]

Điều thú vị là 3 trong số 10 di cốt người cổ ở Mán Bạc, các nhà khảo cổ học phát hiện được bệnh ù tai. Bệnh ù tai ở những nhóm người cổ đại xung quanh khu vực Thái Bình dương cho thấy trong quá khứ bệnh thường xuất hiện. Giả thuyết bệnh ù tai do tiếp xúc lâu trong nước lạnh đã được đông đảo những người nghiên cứu trong các lĩnh vực y tế, nhân học, vật lý, chấp nhận. Cư dân cổ Mán Bạc cư trú ở vùng tiếp núi cận biển. Thời kỳ đầu cư dân Mán Bạc đã biết kết hợp hái lượm, săn bắt và trồng trọt với phương thức khai thác các sản vật của biển. Qua chứng cứ bệnh ù tai có thể khẳng định, người cổ Mán Bạc đã biết lặn để khai thác tài nguyên biển. Theo đánh giá của giới khảo cổ, giá trị lớn nhất của cuộc khai quật di chỉ Mán Bạc lần thứ hai là bước đầu cho thấy sự phát triển của văn hóa Đa Bút giai đoạn muộn lên cư dân Mán Bạc cổ. UBND huyện Yên Mỗ đang có kế hoạch xây dựng bảo tàng ngoài trời tại địa điểm khai quật di cốt người cổ Mán Bạc.

Làng nghề gốm Bát Tràng[sửa | sửa mã nguồn]

Gia phả các dòng họ lâu đời ở Bát Tràng như họ Lê, Vương, Phạm, Nguyễn... đều ghi nhận rằng tổ tiên xưa của họ từ Bồ Bát di cư ra đây (Bồ Bát hiện là Bồ Xuyên và Bạch Bát). Vào thời Hậu Lê khoảng cuối thế kỉ thứ 14 - đầu thế kỉ 15 và đầu thời Nguyễn, xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoá Ngoại. Ngày nay, Bồ Xuyên và Bạch Bát là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, vùng này có loại đất sét trắng rất thích hợp với nghề làm gốm.[2]

Theo truyền thuyết và gia phả một số họ như họ Vũ ở Bồ Xuyên xã Yên Thành, ngày xưa cư dân Bồ Bát chuyên làm nghề gốm từ lâu đời. Điều này được xác nhận qua dấu tích của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc tìm thấy nhiều nơi ở vùng này.

Cố đô Mô Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Khi quân Minh tràn sang xâm lược Đại Việt và cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo nhanh chóng bị thất bại, Nhà Minh liền yết bảng truy bắt con cháu họ Trần, vì lẽ đó, Trần Ngỗi buộc phải rời kinh thành Thăng Long vào vùng Trường Yên thì gặp thổ hào Mô Độ là Trần Triệu Cơ đang chiêu mộ lực lượng để chiến đấu. Ngày 2/10 năm Đinh Hợi (1407), sau khi triều đình nhà Hồ đã bị quân Minh bắt hết về Trung Quốc, để tạo ra ngọn cờ chính thống cho cuộc chiến đấu giành độc lập, tại đất Mô Độ - châu Trường Yên, lực lượng của Trần Triệu Cơ chính thức đưa Trần Ngỗi lên ngôi Hoàng Đế, đặt niên hiệu là Hưng Khánh. Sử cũ và truyền thuyết vẫn thường gọi ông là Giản Định Đế.[3]

Các thần tích ở đền La cho biết Trần Triệu Cơ là người Mô Độ, tức Yên Thành, Yên Mô, Ninh Bình ngày nay. Có thể ông thuộc dòng dõi quý tộc nhà Trần. Trước khi gặp Trần Ngỗi, Trần Triệu Cơ đã là thổ hào đất Mô Độ và chiêu mộ được một lực lượng khá lớn.

Khu di tích đền La[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Triệu Cơ được phối thờ cùng với 2 vua Hậu Trần tại khu di tích đền La trên đại bản doanh xưa nay tại thôn Bồ Xuyên, xã Yên Thành, Yên Mô, Ninh Bình. Xã Yên Thành còn lưu giữ được khá nhiều di tích, dấu ấn về thời Hậu Trần. Ngôi đền đã được cấp bằng “Di tích lịch sử, văn hóa”. Ngôi đền ở vào địa thế có bốn ngọn núi chầu bốn bên: Phương Duệ, Cổ Rùa, Long Mã, Búi Tóc.

Thôn La còn có phủ thờ Bối Mai công chúa dưới chân núi Cái Sơn. Bà là con gái Giản Định Đế, người có công tổ chức việc khẩn hoang, khuyến khích việc nông trang, xây dựng xóm làng. Cách phủ thờ Bối Mai công chúa là khu lăng, nơi này, theo truyền thuyết là nơi an táng Giản Định Đế. Khu lăng ngày trước rộng đến 8 ha. Trước lăng có biển đề: “Hậu Trần hoàng đế lăng”. Xã Yên Thành lại còn một cái giếng mang tên Giếng Dặn. Giếng này có từ thời Giản Định Đế. Theo phong tục địa phương, uống nước giếng Dặn là nhớ lấy lời tiên tổ, ra sức giữ gìn và góp phần dựng xây non sông gấm vóc.

Lễ hội đền La tưởng nhớ các vị anh hùng thời Hậu Trần được mở từ ngày 13 đến ngày 15 tháng giêng âm lịch. Ngày hội có rước kiệu quanh đền, sau đó lễ dâng hương, đọc văn tế. Hội có nhiều trò vui chơi như đánh đu, kéo chữ, đánh cờ và múa hát. Hội còn có tục lệ dâng "Xôi Vựng". Loại xôi này phải chọn gạo nếp thật trắng và thơm, các làng dự thi xôi và làm cỗ cúng. Gạo nếp được vo ở nước giếng đặc biệt của thôn Thượng Phường gọi là giếng Me, các thôn khác phải cử người về giếng Me của thôn Thượng Phường từ ngày hôm trước để xin nước ngâm gạo. Người dân nơi đây cho rằng nước giếng Me trong suốt, tinh khiết, nấu xôi rất dẻo và thơm.

Hồ Yên Thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: hồ Yên Thắng

Hồ Yên Thắng nằm chạy dài dưới chân đồi thuộc ba Đông Sơn, Yên Thành và Yên Thắng với diện tích mặt nước 180 ha và 240 ha đồi cây xung quanh, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên hài hòa, môi trường sinh thái trong lành. Hệ thống hồ Yên Thắng hiện cũng một công trình thủy lợi chống lũ, đảm bảo an toàn cho sản xuất và đời sống của nhân dân các xã Yên Thắng, Yên Thành, Yên Hòa của huyện Yên Mô. Với một hệ thống đập tràn, tưới tiêu, hệ thống giao thông thuận lợi chỉ cách thành phố Ninh Bình 15 Km, hồ Yên Thắng hứa hẹn là một điểm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cuối tuần cho du khách trong và ngoài nước.

Trường Yên thất hào[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Nam nhất thống chí có nói đến “Trường Yên thất hào”, bảy người Ninh Bình nổi danh đời Lê. Đó là Hiển trung đại phu Hoàng Trọng Cung người huyện Yên Khánh, Tham nghị Nguyễn Tử Dự người Giá Hộ (Hoa Lư), Thừa chính Nguyễn Đoan Tước người Phúc Am (thành phố Ninh Bình), Thị độc Ninh Thấu người Côi Trì (Yên Mỹ, Yên Mô), Hiến phó sứ Nguyễn Đình Chí, người Bồ Xuyên (Yên Thành, Yên Mô), Thiêm sự Trịnh Xuân người Yên Liêu (Khánh Thịnh, Yên Mô) và Tham chính Phạm Kiêm Huyền người Thiên Trì (Yên Mạc, Yên Mô).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Bí mật" của những ngôi mộ 3.500 năm ở Mán Bạc
  2. ^ Làng Gốm Sứ Bát Tràng
  3. ^ Việt sử lược chép: Trần Ngỗi là con trai vua Trần Nghệ Tông (1321-1394). Khi ông chạy đến Mô Độ, Trường Yên thì người châu này là Trần Triệu Cơ dựng ông làm vua- xưng là Giản Định Đế, đặt niên hiệu là Hưng Khánh.