Đảng Tiến bộ Nhân dân lao động

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đảng Tiến bộ Nhân dân lao động
Ανορθωτικό Κόμμα Εργαζόμενου Λαού
Emekçi Halkın İlerici Partisi
Viết tắtAKEL
Tổng bí thưAndros Kyprianou
Thành lập15 tháng 8 năm 1926 (95 năm trước) (1926-08-15)
Trụ sở chínhNicosia, Síp
Báo chíHaravgi
Tổ chức thanh niênTổ chức Thanh niên Dân chủ Thống nhất (EDON)
Cánh công đoànLiên đoàn Lao động Liên Síp (PEO)
Ý thức hệChủ nghĩa Cộng sản[1][2]
Chủ nghĩa Marx - Lenin[3][4][5]
Thống nhất đảo Síp
Chủ nghĩa dân túy cánh tả
Vị chính trịcánh tả[2][6][7][8]
Thuộc châu ÂuĐảng cánh tả châu Âu (quan sát viên)
Thuộc tổ chức quốc tếHội nghị quốc tế các đảng Cộng sản và Công nhân
Hội thảo Cộng sản Quốc tế
Nhóm Nghị viện châu ÂuLiên hiệp Cánh tả châu Au–Cánh tả xanh Bắc Âu
Màu sắc chính thức     Red
Hạ viện Cộng hòa
16 / 56
Nghị viện châu Âu
2 / 6
Hội đồng thành phố
123 / 478
Trang webwww.akel.org.cy

Đảng Tiến bộ Nhân dân lao động (tiếng Hy Lạp: Ανορθωτικό Κόμμα Εργαζόμενου Λαού (ΑΚΕΛ), Anorthotikó Kómma Ergazómenou Laoú (AKEL); tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Emekçi Halkın İlerici Partisi) hay Đảng Cộng sản Síp là một đảng chính trị theo tư tưởng chủ nghĩa Marx - Lênin,[3][4] chủ nghĩa cộng sản[1] của Síp.

AKEL là một trong hai đảng lớn ở Síp, và nó ủng hộ một đảo Síp độc lập, phi quân sự và không liên kết, và một giải pháp liên bang về khía cạnh nội bộ của vấn đề Síp. Nó đặc biệt nhấn mạnh vào việc tái lập mối quan hệ với người Síp Thổ Nhĩ Kỳ. Nó ủng hộ nhập cảnh vào Liên minh châu Âu với một số hạn chế nhất định. Ban đầu, AKEL ủng hộ Kế hoạch Annan năm 2004, nhưng cuối cùng, nó đã phản đối kế hoạch này vì Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc không đảm bảo về an ninh sau thống nhất.[9]

Là một đảng ủng hộ mạnh mẽ các lợi ích phúc lợi và quốc hữu hóa, AKEL đã áp dụng thành công một số biện pháp xã hội để hỗ trợ phúc lợi kinh tế của người Síp trong cuộc khủng hoảng tài chính cuối những năm 2000, như tăng lương hưu thấp 30% và tăng cường lợi ích phúc lợi cho sinh viên đại học đến 12 triệu euro mỗi năm. Nhìn chung, 1,2 tỷ euro đã được chi cho các phúc lợi phúc lợi trong ba năm đầu tiên mà AKEL nắm quyền, với nhiều cải tiến được thực hiện trong việc cung cấp phúc lợi xã hội.[3][4] Đảng này hiện đang là đảng đối lập sau cuộc bầu cử năm 2013. Ứng cử viên của đảng đã bị đánh bại trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2018 chống lại tổng thống đương nhiệm.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Nordsieck, Wolfram (2016). “Cyprus”. Parties and Elections in Europe. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Nordsieck” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ a b Harry Anastasiou, The Broken Olive Branch: Nationalism versus Europeanization, Syracuse University Press, 2008, ISBN 9780815631972, p. 163
  3. ^ a b c “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  4. ^ a b c “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  5. ^ Helena Smith, Cyprus gets ready for a communist 'takeover', The Guardian, 2008
  6. ^ Yiannis Papadakis, Nicos Peristianis, Gisela Welz, Divided Cyprus: Modernity, History, And an Island in Conflict - New Anthropologies of Europe, Indiana University Press, 2006, ISBN 9780253218513, p. 80
  7. ^ Uwe Backes, Patrick Moreau, Communist and Post-Communist Parties in Europe, Vandenhoeck & Ruprecht, 2008, ISBN 9783525369128, p. 268 ss.
  8. ^ https://www.lemonde.fr/europe/article/2018/01/28/presidentielle-a-chypre-le-sortant-nicos-anastasiades-favori_5248234_3214.html
  9. ^ Wright, George (ngày 22 tháng 4 năm 2004). “Greek Cypriot leaders reject Annan plan”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2019. The AKEL communist party had earlier suggested it might throw its weight behind the Annan plan and help turn around the widespread antipathy of the Greek-Cypriot south. But today its leadership said it had decided to oppose the plan because the UN security council had not provided guarantees on post-reunification security.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]