Độc Cô Tín

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Độc Cô Tín
Tây Ngụy Vệ quốc công
Phối ngẫuNhư la thị
Thái Nguyên Quách thị
Thanh Hà Thôi thị
Hậu duệ
Thục quốc công Độc Cô La
Hà Nội quận công Độc Cô Thiện
Kim Tuyền huyện công Độc Cô Mục
Vũ Bình huyện khai quốc công Độc Cô Tàng
Vũ Thành huyện hầu Độc Cô Thuận
Vũ Hỉ huyện công Độc Cô Đà
Độc Cô Tông
Bình Hương hầu Độc Cô Chỉnh
Minh Kính hoàng hậu
Nguyên Trinh hoàng hậu
Văn Hiến hoàng hậu
Gia đình quý tộcNhà Độc Cô
ChaTư Không công Độc Cô Khố
MẹThường Nhạc quận quân Phí Liên thị
Sinh502
trấn Vũ Xuyên (nay là tây nam Vũ Xuyên, Nội Mông)
Mất14 tháng 4, 557
Tư gia, thành Trường An

Độc Cô Tín (chữ Hán: 独孤信, 502 - 557), là quý tộc Tiên Ti, tướng lĩnh, khai quốc công thần, một trong Bát Trụ Quốc nhà Tây Ngụy.

Trong lịch sử, Độc Cô Tín có ba con gái được phong (hoặc truy phong) làm Hoàng hậu (hoặc Thái hậu) của 3 triều đại Bắc Chu, Tùy, Đường, nên được sử sách gọi là Tam đại ngoại thích hay Tam triều quốc cữu, một thời vinh quý không ai bì kịp, là trường hợp hiếm có trong lịch sử Trung Quốc.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Độc Cô Tín vốn có tên là Như Nguyện (如愿), tên Tiên Ti là Kỳ Di Đầu (期弥头), người trấn Vũ Xuyên (nay là tây nam Vũ Xuyên, Nội Mông), nguyên quán Vân Trung (nay là Đại Đồng, Sơn Tây). Đầu thời Bắc Ngụy, có khoảng 40 bộ lạc (theo Chu thư là 36) tung hoành ở Hoa Bắc, trong đó bộ lạc Độc Cô - là người Hung Nô đã Tiên Ti hóa - đời đời liên kết với bộ lạc Thác Bạt. Hai người cô của Đạo Vũ đế Thác Bạt Khuê được gả cho bộ lạc Độc Cô, bà nội của Đạo Vũ đế và mẹ đẻ của Minh Nguyên đế Thác Bạt Tự đều mang họ Độc Cô.

Tổ tiên của Độc Cô Như Nguyện là Phục Lưu Truân từng nhậm chức Đại Nhân trong bộ lạc, đầu thời Bắc Ngụy là một trong những quan chức trọng yếu nhất. Ông nội là Sĩ Ni, trong những năm Hòa Bình (460 -465) dời bộ lạc từ Vân Trung đến Vũ Xuyên, tham gia việc đồn trú ở biên cương phía bắc, đảm nhiệm Ốc Dã trấn tướng. Cha là Độc Cô Khố (獨孤庫) kế nhiệm làm Lĩnh dân tù trưởng, anh dũng hào sảng, có khí tiết, trọng nhân nghĩa, người phương bắc rất kính phục. Mẹ là Phí Liên thị (費連氏), quý tộc xuất thân.

Sinh vào thời loạn, bỏ nhà vì chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Như Nguyện ra đời cũng là lúc cuộc Hán Hóa của Hiếu Văn đế Nguyên Hoành đã khiến cho tầng lớp quý tộc Tiên Ti lưu thú biên cương phía bắc bị đào thải, địa vị dần trở nên thấp kém. Binh sĩ đồn thú không được đảm bảo điều kiện sinh hoạt, thậm chí còn bị xem là nô lệ. Năm Chánh Quang thứ 5 (524), người dân tộc Cao Xa ở trấn Cao Bình [1] là Hồ Sâm (hay Thâm) được cử làm Cao Bình vương, dựng cờ khởi nghĩa. Sau khi hạ được trấn Ốc Dã, Hồ Sâm lệnh cho biệt tướng Vệ Khả Cô (hay Côi) tấn công 2 trấn Hoài Sóc, Vũ Xuyên. Bọn cường hào Vũ Xuyên là Hạ Bạt Độ Bạt, Vũ Văn Quăng nghe tin, khẩn cấp tổ chức lực lượng vũ trang địa phương nhằm chống lại. Như Nguyện vốn bất mãn chính quyền Bắc Ngụy, vì lợi ích gia tộc cũng tham gia lực lượng này. Tuy bọn họ tập kích giết được Vệ Khả Cô, nhưng ngọn lửa khởi nghĩa vẫn bùng cháy dữ dội. Hạ Bạt Độ Bạt tử trận, dân quân tan rã. Như Nguyện dời nhà đến huyện Định Chân, quận Trung Sơn [2]. Chưa yên ổn được lâu, Cát Vinh khởi nghĩa ở thành Tả Nhân, Định Châu [3]. Để tránh bị giết hại, Như Nguyện đành gia nhập nghĩa quân.

Lúc này ông đã là 1 thiếu niên tướng mạo khôi ngô, phong lưu lỗi lạc, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, thích phục sức hoa lệ, trong quân đều gọi là Độc Cô Lang. Năm Vũ Thái đầu tiên (528), Cát Vinh giao chiến với Nhĩ Chu Vinh ở Phũ Khẩu, khinh địch nên đại bại. Nhĩ Chu Vinh thấy Như Nguyện là quý tộc Tiên Ti, lại là thiếu niên anh dũng, khí độ bất phàm, bèn dùng ông làm biệt tướng. Không lâu sau, ông theo quân chinh thảo Hàn Lâu, 1 ngựa khiếu chiến, bắt sống Ngư Dương vương Viên Tứ Chu của nghĩa quân, nhờ công được bái làm Viên ngoại tán kỵ thị lang. Sau đó ông chuyển sang làm Kiêu kỵ tướng quân, trấn thủ Phũ Khẩu. Đến khi Nguyên Hạo tiến vào Lạc Dương, Như Nguyện nhận lệnh theo tiền khu, lập công ở Hà Bắc, được bái làm An Nam tướng quân, ban tước Viên Đức huyện hầu (愛德縣侯).

Năm Kiến Minh đầu tiên (530), Như Nguyện ra làm trấn tướng của Tân Dã, Kinh Châu, đeo ấn Tân Dã quận thú. Sau đó dời sang làm Đại đô đốc Phòng Thành, Kinh Châu, đeo ấn Nam Hương quận thú. Ở cả hai nơi, ông đều có thành tích. Hạ Bạt Thắng ra giữ Kinh Châu, xin lấy Như Nguyện làm Đại đô đốc. Ông theo Thắng đánh nhà Lương, phá được Hạ Trá thú, dời sang làm Vũ vệ tướng quân. Em Thắng là Nhạc bị Hầu Mạc Trần Duyệt sát hại, Thắng sai Như Nguyện vào Quan Trung tiếp nhận quân đội của Nhạc. Đến nơi thì bộ hạ của Nhạc đã đề cử Vũ Văn Thái lên nắm quyền, Như Nguyện và Thái là đồng hương, từ nhỏ đã thân thiết, trưởng thành kề vai chiến đầu, nên gặp lại rất đỗi vui mừng. Thái nhân đó để Như Nguyện đi Lạc Dương, báo lên triều đình, ở Ung Châu (trị sở là Trường An [4]), gặp được đại sứ Nguyên Bì đang đến Quan Trung, nên giữa đường quay về Kinh Châu.

Sau đó ông lại được triệu vào triều, rất được Hiếu Vũ đế Nguyên Tu tín nhiệm. Khi Hiếu Vũ đế chạy vào Quan Trung, sự việc bất ngờ, Như Nguyện đành 1 ngựa đuổi theo, đến sông Triều Giản [5] thì bắt kịp. Hiếu Vũ đế than rằng: "Vũ Vệ lìa cha mẹ, dứt vợ con mà đi theo trẫm. Thời loạn biết trung lương, lời này quả là thực chứ không phải giả!", lập tức ban cho 1 thớt ngự mã, tiến tước Phù Dương quận công (浮陽郡公), thực ấp 1000 hộ.

Lánh nạn Nam Lương, về với Tây Ngụy[sửa | sửa mã nguồn]

Khi ấy Hạ Bạt Thắng thất bại, Kinh Châu thuộc về nhà Đông Ngụy. Nhà Tây Ngụy lấy Như Nguyện làm Vệ đại tướng quân, Đô đốc 3 Kinh châu chư quân sự, kiêm Thượng thư Hữu bộc xạ, Đông nam đạo Đại hành đài, Đại đô đốc, Kinh Châu thứ sử để chiêu dụ lòng người. Như Nguyện đến Vũ Đào, Đông Ngụy phái Hoằng Nông quận thú Điền Bát Năng soái binh tướng người Man ở ngoài thành Tích Dương [6] chống giữ; đồng thời lại phái Đô đốc Trương Tề Dân soái 3000 bộ kỵ theo sau Như Nguyện. Ông nói với mọi người: "Nay quân ta có không đến ngàn người, mà trước sau thụ địch. Nếu quay lại đánh Tề Dân, ắt sẽ bị quân giữ thành đến đánh. Không bằng trước hết phá tan Bát Năng." Rồi ra sức tấn công, Bát Năng thua trận, Tề Dân cũng tan chạy. Như Nguyện thừa thắng tập kích Nhương Thành [7] thuộc Kinh Châu. Thứ sử Tân Toản đưa quân ra đánh, thảm bại quay về. Cửa thành không kịp đóng lại, đô đốc Dương Trung xông vào, bắt giết Tân Toản, quân dân trong thành đều quy phục. Như Nguyện được bái làm Xa kỵ tướng quân, Nghi đồng tam tư. Nửa năm sau, Đông Ngụy phái Hầu Cảnh, Cao Ngao Tào đến đánh, Như Nguyện trong thì ít quân, ngoài không có viện quân, đành cùng bộ hạ Dương Trung trốn sang nhà Lương.

Như Nguyện ở miền nam 3 năm, lòng trung không đổi, Lương Vũ đế đành để ông trở về Quan Trung. Vũ đế biết cha mẹ của ông đang ở Sơn Đông (tức Đông Ngụy), hỏi Như Nguyện có muốn gặp lại họ hay không? Ông khẳng khái đáp rằng bề tôi không thể có 2 chủ. Vũ đế rất cảm động, bèn dùng hậu lễ đưa tiễn. Mùa thu năm Đại Thống thứ 3 (537), Như Nguyện về đến Trường An, dâng thư tạ tội. Tây Ngụy Văn đế Nguyên Bảo Cự giao cho các đại thần nghị luận. Mọi người cho rằng ông công tội bù nhau, xin cho xá tội, được phục chức. Như Nguyện lại được làm Phiêu kỵ đại tướng quân, gia Thị trung, Khai phủ, còn lại Sứ trì tiết, Nghi đồng tam tư, Phù Dương quận công như cũ. Ông còn được bái làm Lĩnh quân.

Không lâu sau, Như Nguyện theo Vũ Văn Thái thu phục Hoằng Nông, đại phá Cao HoanSa Uyển, được cải phong Hà Nội quận công (河內郡公), tăng thực ấp lên 2000 hộ. Khi ấy ông tìm được người quen trong đám tù binh, biết tin cha đã mất, thì phát tang cử ai. Ông được thăng làm Đại đô đốc, soái quân cùng Phùng Dực vương Nguyên Quý Hải bức đến Lạc Dương. Như Nguyện được danh môn vọng tộc địa phương ủng hộ, các nơi Toánh, Dự, Tương, Quảng, Trần Lưu nối nhau đến quy phụ.

Năm thứ 4 (538), tướng Đông Ngụy là bọn Hầu Cảnh, Cao Ngao Tào soái quân vây Lạc Dương. Như Nguyện đóng quân ở Kim Dong, phòng thủ có phương pháp, được hơn tuần trăng, Vũ Văn Thái đưa quân đến bờ đông Triều Giản, bọn Cảnh thua chạy. Như Nguyện cùng Lý Viễn làm hữu quân, giao chiến thất bại, nhà Đông Ngụy giành lại Lạc Dương.

Trấn thủ Lũng Hữu, xa gần tin cậy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thứ 6 (540), Hầu Cảnh vào cướp Kinh Châu, Vũ Văn Thái lệnh cho Như Nguyện cùng bọn Lý Bật ra khỏi Vũ Quan tăng viện. Cảnh lui chạy, triều đình lấy Như Nguyện làm Đại sứ úy lạo phủ dụ quân dân 3 Kinh (Châu). Như Nguyện được gia chức Lũng Hữu 10 châu Đại đô đốc, Tần Châu thứ sử. Do người tiền nhiệm kém cỏi, chính lệnh rối loạn, tồn đọng nhiều sự vụ không được giải quyết. Ông ở châu thì không còn gì bị ngưng trệ, lấy lễ nghĩa dạy dân, khuyến khích trồng trọt, trong thời gian mấy năm, kho lẫm sung túc, trăm họ giàu có; lưu dân đến nương nhờ có đến vài vạn gia đình. Vũ Văn Thái thấy đức tín của Như Nguyện nổi tiếng khắp xa gần (nguyên văn: Tín trứ hà nhĩ), nên ban tên cho ông là Tín. Sử sách đều gọi ông bằng cái tên này.

Năm thứ 7 (541), người Xích Thủy là Dân Châu [8] thứ sử Phàn vương Lương Tiên Định khởi nghĩa, Tín được ban chiếu đi đánh dẹp. Lương Tiên Định bị giết, nhưng con em của ông ta vẫn tiếp tục kháng cự. Tín đưa quân đến Vạn Niên, đóng trại ở cửa hang Tam Giao. Phản quân ra sức cố thủ, Tín phao lên rằng đại quân triều đình đã đến, phản quân hoang mang, khiếp sợ mà tan rã. Ông thừa thắng đuổi lên phía bắc, buộc phản quân phải đầu hàng. Được gia chức Thái tử thái bảo.

Năm thứ 9 (543), 2 nước Ngụy giao chiến ở Mang Sơn, quân Tây Ngụy thua chạy, Tín cùng Vu Cẩn thu thập tàn binh, tập kích phía sau truy binh của Đông Ngụy, nên các cánh quân mởi trở về an toàn. Năm thứ 12 (546), Lương Châu thứ sử Vũ Văn Trọng Hòa không chịu thuyên chuyển, Vũ Văn Thái sai Tín soái bọn Khai phủ Di Phong đi chinh phạt. Trọng Hòa đóng chặt cửa thành cố thủ, Tín nhân đêm tối lệnh cho chư tướng dùng xung thê đánh góc đông bắc, tự mình soái quân tập kích góc tây nam, trời sáng thì hạ được thành, bắt được Trọng Hòa cùng 6000 gia đình đưa về Trường An. Ông được bái làm Đại tư mã.

Cả nhà vinh hiển, công lớn bị hại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thứ 13 (547), nhà Tây Ngụy tiến quân về phía đông đánh nhà Lương, triều đình sợ người Nhu Nhiên vào cướp, phái ông đi trấn thủ Hà Dương. Năm thứ 14 (548), Tín được tiến vị làm Trụ Quốc đại tướng quân. Truy lục các chiến công đánh Hạ Trá thú, chiếm Lạc Dương, phá Dân Châu, bình Lương Châu… trước đây, các con đều được thụ phong: con thứ 2 là Thiện được phong Ngụy Ninh huyện công, con thứ 3 là Mục được phong Văn Hầu huyện hầu, con thứ 4 là Tàng được phong Nghĩa Ninh huyện hầu, thực ấp đều là 1000 hộ; con thứ 5 là Thuận được phong Hạng Thành huyện bá, con thứ 6 là Đà được phong Kiến Trung huyện bá, thực ấp đều là 500 hộ.

Độc Cô Tín ở Lũng Hữu 9 năm, xin về triều, nhưng không được. Có người từ Đông Ngụy đến báo tin mẹ ông mất, Tín phát tang cử ai. Thái tử cùng Vũ Văn Thái đi tuần biên giới phía bắc, đến Hà Dương để viếng, ông xin giải chức để cư tang, Vũ Văn Thái lại không cho. Triều đình truy tặng cha Tín làm Tư Không công, mẹ làm Thường Sơn quận quân.

Năm thứ 16 (550), Tây Ngụy lại đánh nước Lương, Tín soái mấy vạn người Lũng Hữu tòng quân, đến Hào Phản thì trở về. Dời sang làm Thượng thư lệnh. Khi Vũ Văn Thái đặt ra Lục quan, Tín được bái làm Đại Tư Mã. Hiếu Mẫn đế lên ngôi, ông dời sang làm Thái Bảo, Đại Tông Bá, tiến tước Vệ quốc công, thực ấp vạn hộ.

Con rể của Tín, Vũ Văn Dục, vốn là con trưởng của Vũ Văn Thái, nhưng lại là thứ xuất (do tỳ thiếp sinh ra). Thái muốn lập con thứ 4 là Giác, nhưng không dám quyết đoán. Năm Cung đế Thác Bạt Khuếch thứ 3 (556), Thái triệu tập công khanh để đặt vấn đề, thực chất là lợi dụng số đông mà dồn ép Độc Cô Tín, buộc ông phải đồng ý. Ông trở về nhà, ưu phẫn nói:"Ta bỏ nhà vì nước, mấy chục năm chinh chiến sa trường, trị lý địa phương, vì họ Vũ Văn hết sức trung thành, ngày nay lại đố kỵ như vậy, đem ta ra bài xích. Tương lai khó đoán thay".

Cuối mùa thu năm ấy, Vũ Văn Thái mất ở Vân Dương, Vũ Văn Giác kế vị, Tín được nhiệm mệnh làm Thái sư, kiêm nhiệm Trụ Quốc, Đại Trủng Tể. Cháu của Thái là Vũ Văn Hộ nắm giữ đại quyền, nhiều người không phục. Triệu Quý và Độc Cô Tín ngầm mưu chống lại, nhưng ông lại do dự không quyết, sự việc bị Vũ Văn Thịnh cáo giác, Hộ giết cả nhà Triệu Quý, nhưng chỉ dám miễn quan của Độc Cô Tín.

Khoảng 1 tháng sau, ông bị ban rượu độc, phải tự sát tại nhà. Thụy hiệuLệ (戾).

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc tranh chấp giữa 2 tập đoàn quân phiệt Cao Hoan (Đông Ngụy – Bắc Tề) và Vũ Văn Thái (Tây Ngụy – Bắc Chu) xét theo diện hẹp là cuộc tranh chấp của những thế lực có gốc gác từ 2 trấn Hoài Sóc – Vũ Xuyên. Độc Cô Tín phong độ nho nhã, lại có mưu lược, xuất thân quý tộc, có uy vọng rất cao ở tập đoàn Vũ Xuyên cũng như triều đình Tây Ngụy. Sự trọng vọng mà mọi thế lực dành cho ông, từ Cát Vinh (thủ lĩnh khởi nghĩa) đến Nhĩ Chu Vinh (quyền thần triều đình) là rõ ràng.

Độc Cô Tín không những là một danh tướng trên chiến trường, mà còn hoàn thành công tác trị lý địa phương một cách xuất sắc. Chu thư khẳng định: họ Vũ Văn khởi nghiệp, chỉ có mỗi vùng đất Quan Trung, dựa vào Lũng Hữu hiểm trở, cậy nhờ Tín trấn thủ chỗ ấy. Ông được trăm họ yêu mến [9], tiếng tăm truyền đến tận nhà Lương [10], có vai trò quan trọng trong thành công sau này của chính quyền Tây Ngụy – Bắc Chu.

Tùy Văn Đế hạ chiếu truy tặng ông làm Thái sư, Thượng Trụ Quốc, 10 Châu chư quân sự, Ký Châu thứ sử, phong Triệu quốc công (趙國公), thực ấp vạn hộ, thụy là Cảnh (景). Nhà Đường truy phong Lương vương (梁王).

Hậu nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Độc Cô Tín có 3 vị phu nhân:

  1. Như La thị, mẹ của con trưởng Độc Cô La, mất ở Bắc Tề;
  2. Thái Nguyên Quách thị sinh ra Thiện, Mục, Tàng, Thuận, Đà, Chỉnh và con gái trưởng.
  3. Thanh Hà Thôi thị sinh ra Văn Hiến hoàng hậu của nhà Tùy.

Ông có tám con trai, bảy con gái, các con trai đều được nhiệm quan chức. Con gái lớn Độc Cô thị được gả cho Bắc Chu Minh đế Vũ Văn Dục, tức Minh Kính hoàng hậu. Con gái thứ 4 được gả cho Lý Bính (con trai Trụ Quốc Lý Hổ), sinh ra Đường Cao Tổ Lý Uyên, được truy tôn làm Nguyên Trinh hoàng hậu. Con gái thứ 7 Độc Cô Già La được gả cho Tùy Văn đế Dương Kiên (con trai Đại tướng quân Dương Trung), tức Văn Hiến hoàng hậu. Như vậy, Đường Cao Tổ Lý Uyên và Tùy Dạng đế Dương Quảng đều là cháu ngoại của Độc Cô Tín.

Con trưởng Độc Cô La bị giam cầm ở Đông Ngụy - Bắc Tề nhiều năm, đến khi Tín bị bức tử mới được thả ra. Khi ấy, La mồ côi nghèo khổ, tướng Tề là Độc Cô Vĩnh Nghiệp xót tình đồng tông, tặng cho ruộng vườn để tự làm ăn sinh sống. Bắc Chu diệt Bắc Tề, Dương Kiên làm Định Châu tổng quản, theo lời vợ mà tìm được La. Bắc Chu Vũ đế Vũ Văn Ung thương xót La là con của công thần, chịu cảnh luân lạc khổ sở đã lâu, ban làm Sở An quận thú.

Ban đầu, Thiện được kế tự, đến khi nhà Tùy thay ngôi nhà Chu, thì Thiện đã mất rồi. Tùy Văn đế theo lời Độc Cô hoàng hậu, xét La là con trưởng dòng đích, gạt đi sự phản đối của anh em họ Độc Cô, cho La tập tước Triệu Quốc Công. La bị anh em khinh miệt là xuất thân bần tiện, nhưng ông có tính trưởng giả, không hề chấp nhặt, nên rất được Độc Cô hoàng hậu kính trọng, Văn đế lấy ông làm Lĩnh tả hữu tướng quân, thụ chức Nghi đồng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay là huyện Cố Nguyên, Cam Túc
  2. ^ Nay là huyện Định, Hà Bắc
  3. ^ Nay là huyện Đường, Hà Bắc
  4. ^ Nay là Tây An, Thiểm Tây
  5. ^ Nay là Lộc Thủy, tây bắc Lạc Dương
  6. ^ Nay là phía bắc Tây Hạp, Hà Nam
  7. ^ Nay là huyện Đặng, Hà Nam
  8. ^ Nay là huyện Dân, Cam Túc
  9. ^ Chu Thư, sách đã dẫn kể rằng: Khi Độc Cô Tín còn ở Tần Châu, đi săn trở về vào lúc chiều muộn, giục ngựa vào thành, mũ bị lệch sang 1 bên. Sáng hôm sau, trong dân chúng đã có người bắt chước đội mũ lệch
  10. ^ Chu Thư, sách đã dẫn kể rằng: Khi Hầu Cảnh chạy sang nhà Lương, đại thần nhà Đông Ngụy là Ngụy Thu làm ra "Hịch Lương văn", nói xằng rằng Độc Cô Tín giữ Lũng Hữu không nghe lệnh họ Vũ Văn, lại nói Vũ Văn Thái tìm dịp đầy Tín đi trấn thủ Hà Dương, lấy cháu mình là Vũ Văn Đạo thay chức của Tín, còn tự mình thị sát đất phong của Tín,... nên (Đông Ngụy) không phải lo đến Quan Tây (tức Tây Ngụy) nữa, nhằm dọa nạt người Lương...