Đo điện trở suất hố khoan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đo điện trở suất hố khoan (Resistivity log) là thành phần chủ chốt của Địa vật lý hố khoan, thực hiện dựa cơ sở lý thuyết của Thăm dò Điện trở, với hệ cực đo bố trí trong đầu thu ở hố khoan, nhằm thu được thông tin điện trở suất của đất đá, từ đó phân chia đất đá theo thành phần, tính chất và trạng thái, góp phần khẳng định hay hiệu đính địa tầng hố khoan. Nó gần như không thiếu vắng trong các khảo sát hố khoan.

Phương pháp thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các máy cổ điển trước năm 1970, đo điện trở suất thực hiện đồng thời với đo điện trường thiên nhiên (SP). Ngày nay một số đầu đo vẫn áp dụng cách đo chung, còn số khác thì bỏ đo SP.

Việc ghép chung thực hiện được là vì trong thực tế đo điện trở suất thực hiện bằng dòng đảo chiều dạng xung vuông với tần số cỡ chục Hz. Điện thế thu được trên “cực đo” được tách ra 2 phần, phần DC là của SP, còn tách sóng đồng bộ cho ra phần tín hiệu của điện trở suất.

Vì khi khoan, đất đá quanh thành hố khoan bị nứt nẻ với mức độ khác nhau. Sau đó sự xâm nhập của nước làm điện trở suất giảm tùy theo mức nứt nẻ quanh hố khoan. Để xác định bán kính các đới này quanh hố khoan, thì dùng Đầu đo điện với các phân bố cực đo 8-16-32-64 inch. Ví dụ đầu đo PolyElectric Probes 2PEA-1000 & 2PEA-1000/F 8-16-32-64” normal resistivity probe.[1]

Đối tượng nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]