Ẩm thực Somalia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vị trí của Somalia

Ẩm thực Somali thay đổi theo từng khu vực và là sự kết hợp giữa các truyền thống ẩm thực khác nhau của Somali đồng thời chịu thêm một số ảnh hưởng từ nền ẩm thực Đông Phi, Ả Rập, Thổ Nhĩ KỳÝ. Nó là kết quả của truyền thống thương mại và mậu dịch của Somalia. Một số món ngon đáng chú ý của Somali bao gồm sabayad, lahoh/injera, halva, sambuusaMuqmaad (thịt bò).

Bữa sáng[sửa | sửa mã nguồn]

Canjeero là món ăn chính trong ẩm thực Somali.

Bữa sáng (quraac) là một bữa ăn quan trọng của người Somali, người ta thường bắt đầu một ngày bằng một vài loại trà (shaah) hoặc cà phê (qaxwa). Ở phía Bắc, trà thường theo kiểu haleeb shai (trà sữa Yemen). Các món ăn chính thường là một loại bánh pancake-giống với bánh mì kép (‘’canjeero’’ hoặc canjeelo) giống với injera của người Ethiopia, nhưng nhỏ hơn và mỏng hơn. Nó cũng có thể được ăn với một món hầm (maraqe) hoặc súp.[1] Ngoài canjeero nhiều người Somali còn ăn thịt xắt nhỏ trộn với một số gia vị như thì là, tỏi, hành tây và tiêu.

  • Canjeero được ăn theo nhiều cách khác nhau. Nó có thể được cắt thành những miếng nhỏ ăn với bơ sữa trâu (subag) và đường. Đối với trẻ em, để dễ ăn, canjeero sẽ được trộn lẫn với trà và dầu mè (Macsaro) cho đến khi mềm. Có thể có thêm một món ăn phụ từ gan (thường là gan ), thịt dê (hilib ari), bò lúc lắc nấu trong một nồi súp (suqaar), hoặc thịt bò khô (oodkac hoặc muqmad), trong đó bao gồm miếng khô nhỏ thịt bò, dê hoặc thịt lạc đà, luộc trong ghee.
  • Lahoh (Laxoox) là một loại bánh giống bánh mì có nguồn gốc từ Somalia, DjiboutiYemen.[2][3] Nó thường được ăn cùng với mật ong, bơ sữa trâu và tráng miệng với một tách trà. Trong bữa ăn trưa, lahoh đôi khi được ăn với cà ri hoặc súp, hoặc các món thịt hầm.
  • Sabaayad hoặc Kibis là một loại bánh mì lát cắt giống với injera/lahoh, cũng như desi paratha.
  • *’’Polenta’’ (mishaari) hay cháo (boorash) được ăn với bơ và đường được ăn ở khu vực Mogadishu. Ở những nơi khác của phía Nam, chẳng hạn như trong vùng Merca, loại bánh mì đặc biệt này được gọi là rooti abuukey được ưa chuộng khi ăn kèm với trà. Loại bánh mì này còn được gọi là muufo, nó được nấu chín trong lò đất sét đặc biệt bằng cách dán hỗn hợp làm bánh vào các bức tường và chờ đợi cho nó rơi ra khi đã chín.[4]

Bánh mỳ cắt lát còn được gọi là rooti được tiêu thụ nhiều ở phía Bắc. Khắp đất nước, một phiên bản ngọt và béo của canjeero với tên gọi malawax (hoặc malawah) là một nhân tố chính của hầu hết các bữa ăn tự chế biến.

Bữa trưa[sửa | sửa mã nguồn]

Baasto (pasta) làm từ spaghettidigaag (chicken) được mang ra tại một nhà hàng ở Somali

Bữa trưa (qado) thường là món chính được chế biến từ pasta (baasto) hoặc cơm (bariis), gia vị chủ yếu là thì là (kamuun), bạch đậu khấu (heyl), đinh hương (qaranfuul), và cây xô thơm (Salvia somalensis). Việc sử dụng phổ biến mì ống (baasto), như spaghetti[5] đến từ người Ý. Nó thường được trình bày với một món hầm nặng hơn so với nước sốt mì Ý. Còn với cơm, nó thường được ăn kèm với một quả chuối.

Spaghetti cũng có thể được dùng với cơm, tạo thành một món ăn mới lạ được gọi là "Liên đoàn". Các món ăn thường được phục vụ với lượng cơm bằng lượng spaghetti, chia ở hai bên của một cái đĩa hình bầu dục lớn. Sau đó nó được xếp lớp với các loại thịt hầm và rau quả, ăn kèm với salad và chuối tùy chọn. Nó đã được nhắc đến là món ăn có nguồn gốc từ sự kết hợp của hai món ăn ở Somalia và cũng từ kích thước và số lượng của thực phẩm. Bạn sẽ không tìm thấy món ăn này trong thực đơn của những gia đình có thu nhập trung bình ở Somali, vì nó khá phức tạp để nấu cơm và mì ống trong cùng một bữa ăn. Do đó, món ăn này thể hiện sự mới lạ.

Ở phía nam, Iskudhexkaris, 1 nồi cơm, rau và thịt, là một món chính của vùng. Ngoài nhiều món hầm (maraq), cơm thường được phục vụ với thịt và/hoặc chuối bên cạnh. Tại Mogadishu, bít tết (busteeki) và cá (kalluun/mallaay) là món ăn phổ biến được ăn rộng rãi.

Người Somali thường dùng một loại bột ngô mềm được gọi là soor. Nó được nghiền với sữa tươi, bơ và đường, hoặc trình bày với một lỗ ở giữa được đổ đầy maraq.

Món thịt lạc đà ăn cùng với cơm của người Somila

Một biến thể của desi chapatisabaayad/kamis. Giống như cơm, nó được phục vụ với maraq và thịt bên cạnh. Các sabaayad của Somalia thường hơi ngọt, và được nấu chín trong một ít dầu.

Polenta của Ý, được gọi là Sor ở Somalia, được sử dụng trong khu vực Benadir, chủ yếu là vùng gần Merca và Jowhar.

Nước uống phổ biến vào bữa trưa là balbeelmo (bưởi), raqey (me) và isbarmuunto (chanh). Ở Mogadishu, fiimto (vimto) và laas (lassi) cũng phổ biến. Còn ở phía Tây Bắc Hargeisa, thức uống ưa thích là cambe (xoài), zaytuun (ổi) và tufaax (táo). Ngoài ra gạo basmati là thứ phổ biến trong các món ăn somali. Gạo được nấu chín và sau đó chiên với một số hành, thịt và sau đó trộn với các loại gia vị khác nhau như thì là.

Bữa tối[sửa | sửa mã nguồn]

Túi gạo truyền thống cambuulo của người Somalia

Bữa tối (casho) ở Somalia được ăn vào lúc 9 giờ tối. Trong tháng Ramadan, bữa ăn tối thường tiếp sau lời cầu nguyện Tarawih, đôi khi muộn đến 11 giờ tối. Cambuulo, một món ăn tối phổ biến, được làm từ đậu đỏ nấu chín pha trộn với bơ và đường. Đậu đỏ còn có tên gọi digir, có thể mất đến năm giờ để nấu xong khi để bếp ở nhiệt độ quá thấp. Qamadi (lúa mì) cũng được sử dụng; bị nứt hoặc không bị nứt, nó được nấu chín và ăn giống như đậu đỏ.

Rooti iyo xalwo, lát bánh mì ăn kèm với một gelatin bánh kẹo, là một món ăn khác cho bữa tối. Muufo, một biến thể của bánh ngô, là một món ăn làm từ ngô và được nướng trong foorno (lò nướng). Nó được ăn bằng cách cắt nó thành từng miếng nhỏ, phủ lên dầu mè (macsaro) và đường, sau đó nghiền với trà đen.

Trước khi ngủ, một ly sữa gia vị với thảo quả thường được uống.

Món ăn nhẹ[sửa | sửa mã nguồn]

Sambuusas kiểu Somalia đang được chuẩn bị

Sambusa, biến thể món Desi samosa của người Somalia, là một món ăn hình tam giác thường được ăn khắp Somalia trong thời gian afur (iftar). Phiên bản Somali có vị cay của ớt siêu cay, và thành phần chính thường là thịt hoặc cá xay. Kabaab là một món hay ăn của người Somali phía Nam. Phiên bản Somali là hỗn hợp của thịt xay, khoai tây, hành và rau, sau đó được phủ bột và chiên giòn. Ngoài ra, có các loại trái cây như xoài (cambo), ổi (Seytuun), chuối (moos) và bưởi (liinbanbeelmo) được ăn suốt cả ngày như đồ ăn nhẹ.

Kẹo[sửa | sửa mã nguồn]

Gashaato là loại bánh kẹo có nguồn gốc từ dừa, đặt trên phông nền của quốc kì Somali.
Xalwo(halwo) hay halva là món ăn khong8 thể thiếu của ẩm thực Somali.
  • Xalwo (halwo) hay halva là bánh kẹo phổ biến được phục vụ trong những dịp đặc biệt,[6] như lễ Eid hoặc tiệc cưới. Xalwadii waad qarsatey! ('bạn giấu xalwo của bạn!") là câu nói của những người bỏ trốn hoặc có một đám cưới nhỏ, kín đáo. Xalwo làm từ đường, bột bắp, bột bạch đậu khấu, bột nhục đậu khấughee. Đậu phộng cũng đôi khi được thêm vào để tăng cường cấu trúc và hương vị.[7]
  • Gashaato, Kashaato hay Qumbe, làm từ dừa, đường và dầu ăn, cùng gia vị thảo quả, là món ngọt được nhiều người yêu thích. Đường được đun sôi với một chút nước, sau đó cây bạch đậu khấu được thêm vào, cuối cùng là băm dừa ra nhỏ.
  • Lows iyo sisin là món ngọt yêu thích ở phía Nam. Nó bao gồm một hỗn hợp của đậu phộng (few) và hạt mè (sisin) trong nồi caramel. Chúng dính với nhau tạo thành một thỏi kẹo hấp dẫn.
  • Jalaato, giống với popsicle của Mỹ, được làm bằng cách đóng băng trái cây ngọt tự nhiên với một cây gậy ở giữa. Gần đây hơn ở Mogadishu (Xamar), nó đã phát triển để bao gồm caano jalaato được làm bằng sữa và đòi hỏi phải lên đường. Từ jalaato xuất phát từ gelato, trong tiếng Ý có nghĩa là "đông lạnh".
  • Buskut hay Buskud bao gồm nhiều loại cookie khác nhau, bao gồm các loại cookie rất mềm được gọi là daardaar (nghĩa đen là "cảm ứng" do kết cấu mịn màng, tinh tế của nó).
  • Doolshe bao gồm nhiều loại bánh ngon.
  • Icun là món ngọt phổ biến ở miền Nam Somali. Nó được làm từ đường và bột trộn với dầu. Mọi người thích nói Icun I calaangi caloosha I gee (Ăn tôi, nhai tôi, sau đó đưa tôi đến dạ dày của bạn) khi họ nhìn thấy nó. Icun chủ yếu ăn trong đám cưới và thời gian Eid, nhưng người Somali miền Nam hầu như luôn làm nó ở nhà và ăn nó như là một phần của một món tráng miệng.
  • Basbousa là bánh ngọt truyền thống của Somali.[8] It làm bằng cách nấu chín semolina hoặc farina ngâm trong siro đơn giản.

Có rất nhiều đồ ngọt được ăn trong các dịp lễ hội, chẳng hạn như đám cưới, tiệc tùng hoặc Eid. Trong số này có baalbaaloow, shuushuumoow, bur hindi, bur tuugqumbe (dừa) được làm từ dừa trộn với đường để tạo thành một thỏi.

Sau bữa ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Dầu đốt hương dabqaad

Người Somali có truyền thống thưởng thức mùi hương sau bữa ăn. Trầm hương (luubaan) hoặc một hương khác được chuẩn bị (uunsi), được gọi là bukhoorbán đảo Ả Rập, được đặt trên đầu ngọn lửa than nóng bên trong một lò đốt hương hoặc lư hương (dabqaad).[9] Sau đó đốt cháy nó trong khoảng mười phút. Điều này giúp giữ được mùi thơm trong nhà nhiều giờ. Đầu đốt được làm từ xà phòng được tìm thấy ở những vùng đặc biệt của Somalia.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Abdullahi, pp.111-114.
  2. ^ Mohamed Diriye Abdullahi, Culture and Customs of Somalia, (Greenwood Press: 2001), p. 113.
  3. ^ Little Business Women
  4. ^ “Somali Polenta Flat Bread (Muufo)”. The Somali Kitchen. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  5. ^ Somalian recipes (in Italian)
  6. ^ "Somali Halwa." Mysomalifood.com. Truy cập July 2011.
  7. ^ Ali, p. 79
  8. ^ “The Recipes of Africa”. tr. 241. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2014. 
  9. ^ Abdullahi, pp.98-99

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]