109P/Swift–Tuttle

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
109P/Swift–Tuttle
Phát hiện
Được phát hiện bởi: Lewis Swift
Horace Parnell Tuttle
Ngày phát hiện ra: 16 tháng 7 năm 1862
Tên gọi khác: 1737 N1; 1737 II; 1862 O1;
1862 III; 1992 S2; 1992 XXVIII
Các đặc điểm quỹ đạo A
Kỷ nguyên: ngày 10 tháng 10 năm 1995
(JD 2450000.5)
Khoảng cách viễn nhật: 51.225 AU
Khoảng cách cận nhật: 0.9595 AU
Bán trục lớn: 26.092 AU
Độ lệch tâm quỹ đạo: 0.9632
Chu kỳ theo sao: 133.28 yr
Độ nghiêng: 113.45°
Lần cận nhật gần nhất: 11 tháng 11 năm 1992[1]
Lần cận nhật kế tiếp (dự báo): 12 tháng 7, 2126[2]

Sao chổi Swift–Tuttle (định danh 109P/Swift–Tuttle) là một sao chổi được Lewis Swift phát hiện vào ngày 16 tháng 7 năm 1862 và Horace Parnell Tuttle phát hiện vào ngày 19 tháng 7 năm 1862 độc lập nhau. Quỹ đạo của nó rõ ràng và có đường kính 26 km.[1]

Sao chổi này xuất hiện trở lại vào năm 1992, khi đó nó được nhà thiên văn học Nhật Bản là Tsuruhiko Kiuchi phát hiện và có thể nhìn thấy bằng ống nhòm.[3] Phần nhân rắn của nó có bề rộng khoảng 27 km, kích thướng lớn hơn 10 km so với vật thể giả thiết đã quét sạch khủng long trong Sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-phân đại đệ Tam.[4]

Phần thân nó tạo ra các cơn mưa sao băng Perseid. [5]

Một khía cạnh khác thường về quỹ đạo của nó là nó hiện bị bắt giữ vào quỹ đạo cộng hưởng 1:11 với Sao Mộc; nghĩa là nó hoàn thành một chu kỳ quỹ đạo cứ mỗi 11 chu kỳ quỹ đạo của Sao Mộc.[6]

Theo lịch thiên văn từ NASA's Jet Propulsion Laboratory[7], nó không được xếp vào danh sách các vật thể có thể tiếp cận gần Trái Đất của NASA[8].

Mối nguy hiểm tiềm ẩn đối với Trái Đất[sửa | sửa mã nguồn]

Sao chổi di chuyển trên quỹ đạo gần với Trái ĐấtMặt Trăng.[9] Theo phát hiện vào năm 1992, ngày sao chổi đi qua củng điểm quỹ đạo, chênh lệch so với dự báo lúc đó là 17 ngày. Sau thông báo đó, nếu ngày đi qua củng điểm quỹ đạo tiếp theo (14 tháng 8, 2126) cũng bằng cách thêm vào 15 ngày, sao chổi có thể sẽ va vào Trái Đất hoặc Mặt Trăng. Kích thước nhân của Swift–Tuttle là một trong những vấn đề cần quan tâm. Nhà thiên văn học và là nhà văn Gary W. Kronk đã tìm kiếm về các lấn xuất hiện trước đây của sao chổi này. Ông ta đã phát hiện rằng sao chổi này rất giống với những quan sát của người Trung Quốc vào các năm 69 TCN188. Đều này sau đó được Brian G. Marsden xác nhận một cách nhanh chóng.[10] Thông tin này và nhưng quan sát tiếp theo giúp cho việc tính toán lại quỹ đạo của nó, kết quả cho thấy quỹ đạo của nó rất ổn định, và nó không gây nguy hiểm trong vòng 2000 năm tới.[11] Các nhà thiên văn học tin tằng năm 2126, nó sẽ có thể là một sao chổi nhìn thấy bằng mắt thường giống như Hale–Bopp.[3]

Sự gặp nhau gần với Trái Đất được dự đoán khi sao chổi quay lại vòng trong của Hệ Mặt Trời vào năm 4479, khoảng 15 tháng 9; khoảng cách gần hất được ước tính khoảng 0,03–0,05 AU, với khả năng ảnh hưởng 1×10−6.[6] Vào năm 4479, sự tiến triển quỹ đạo của sao chổi sẽ khó khăn để dự đoán; khả năng va chạm của Trái Đất ước tính khoảng 2×10−8.[6] Là vật thể lớn nhất trong hệ mặt trời có khả năng tiếp cận gần Trái Đất, và có vận tốc tương đối là 60 km/s,[4][12] như thế năng lượng va chạm ước tính gấp 27 lần năng lượng va chạm trong sự kiện K-T.[13] Sao chổi Swift–Tuttle đã từng được miêu tả là "vật thể đơn lẻ nguy hiểm nhất đối với nhân loại".[12]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “JPL Small-Body Database Browser: 109P/Swift–Tuttle”. Jet Propulsion Laboratory. Ngày 29 tháng 3 năm 1995. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2011. 
  2. ^ Syuichi Nakano (ngày 18 tháng 11 năm 1999). “109P/Swift–Tuttle (NK 798)”. OAA Computing and Minor Planet Sections. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2011. 
  3. ^ a ă Britt, Robert (ngày 11 tháng 8 năm 2005). “Top 10 Perseid Meteor Shower Facts”. Space.com. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2009. 
  4. ^ a ă Weissman, Paul R. (2007). “The cometary impactor flux at the Earth”. Trong Milani, A.; Valsecchi, G.B.; Vokrouhlicky, D. Near Earth Objects, our Celestial Neighbors: Opportunity and Risk; Proceedings [[Hiệp hội Thiên văn Quốc tế|IAU]] Symposium No. 236, 2006. Proceedings of the International Astronomical Union 2 (Cambridge University Press). tr. 441–450. doi:10.1017/S1743921307003559. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2009.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  5. ^ Bedient, John. "AMS Meteor Showers page", American Meteor Society, ngày 20 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010.
  6. ^ a ă â Chambers, J. E. (1995). “The long-term dynamical evolution of Comet Swift–Tuttle”. Icarus (Academic Press) 114 (2): 372–386. Bibcode:1995Icar..114..372C. doi:10.1006/icar.1995.1069. 
  7. ^ [1]
  8. ^ [2]
  9. ^ Chandler, David L (ngày 1 tháng 6 năm 2005). “Comet put on list of potential Earth impactors”. New Scientist. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2008. 
  10. ^ Kronk, Gary; Marsden, Brian G. (1992). “Periodic Comet Swift–Tuttle (1992t)”. Central Bureau for Astronomical Telegrams. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2009.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  11. ^ Stephens, Sally (1993). “on Swift–Tuttle's possible collision”. Astronomical Society of the Pacific. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  12. ^ a ă Verschuur, Gerrit L. (1997). Impact!: the threat of comets and asteroids. Oxford University Press. tr. 256 (see p. 116). ISBN 978-0-19-511919-0. 
  13. ^ This calculation can be carried out in the manner given by Weissman for Comet Hale–Bopp, as follows: A radius of 13.5 km and an estimated density of 0.6 g/cm3 gives a cometary mass of 6.2×1018 g. An encounter velocity of 60 km/sec yields an impact velocity of 61 km/sec, giving an impact energy of 1.15×1032 ergs, or 2.75×109 megatons, about 27.5 times the estimated energy of the K–T impact event.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:PeriodicComets Navigator