Bò Brahman

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bò Brahman trắng

Bò Braman là một loại bò thịt thuộc giống bò Zebu có nguồn gốc từ Ấn Độ (Bos primigenius indicus). Bò được đặt tên theo vị thần Bà La Môn tôn kính của tôn giáo Ấn Độ. Đây là loại bò thịt nhiệt đới, được nuôi rộng rãi ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới trong đó có Việt Nam.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Một con bò Brahman đỏ

Bò có màu lông trắng xám hoặc trắng pha lấm tấm. Bò có ngoại hình thể chất chắc, khoẻ mạnh, hệ cơ phát triển, u vai phát triển, tai to và cụp xuống. Khối lượng trưởng thành của bò cái 380 kg, bò đực 600–650 kg, Tuy nhiên năng suất sữa thấp cỡ khoảng 600–700 kg/chu kỳ. Khối lượng sơ sinh 23–24 kg. Tỷ lệ xẻ thịt đạt đến 52,5%. Ngoài những con bò Brahman màu trắng, người ta cũng đã chọn lọc được các dòng bò Bradman màu đỏ.

Lai tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Một con bê lai Brahman

Bò lai Brahman là kết quả lai kinh tế giữa đực giống bò Brahman với bò cái lai Sind để tạo đàn bò lai F1 nuôi lấy thịt. Đây là phẩm giống có tỷ lệ thịt xẻ cao. Bê lai Brahman có đặc điểm nổi trội là trán dô, tai cúp, lớn nhanh. Khối lượng bê sơ sinh 18 – 22 kg, ở 3 tháng tuổi đã đạt trọng lượng trên 80kg, 5 – 6 tháng tuổi đạt từ 120 – 150 kg/con, so với bê lai Sind thì bê lai Brahman có trọng lượng lớn hơn và lớn nhanh hơn. Tỷ lệ thịt xẻ 51 – 53 %, tỷ lệ thịt tinh 40%.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Bò trong nghi lễ tôn giáo

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]