Cacnalit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cacnalit
Tinh thể cacnalit
Thông tin chung
Thể loại Khoáng vật halua
Công thức hóa học KMgCl3·6(H2O)
Phân loại Strunz 03.BA.10
Phân tử gam 277.85
Màu Lam, không màu, vàng, trắng, đỏ
Dạng thường tinh thể Có sợi thớ
Hệ tinh thể Thoi tám cạnh Orthorhombic, (2/m 2/m 2/m), Nhóm không gian space group: Pcna
Song tinh Dưới áp suất có thể tạo ra phiến mỏng song sinh
Cát khai Không
Vết vỡ Conchoidal
Độ cứng Mohs 2.5
Ánh Nhờn mỡ
Màu vết vạch Trắng
Tính trong mờ Trong suốt đến trong mờ
Tỷ trọng riêng 1.6
Mật độ 1.598 g/cm3
Thuộc tính quang Song trục (Biaxial) (+)
Chiết suất nα = 1.467
nβ = 1.476
nγ = 1.494
Khúc xạ kép 0.0270
Góc 2V 70
Tham chiếu [1][2][3]

Cacnalit (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp carnallite /kaʁnalit/),[4] còn được viết là các-na-lít,[4] là một khoáng vật hình thành do bốc hơi, thành phần kali magiê clorua ngậm nước có công thức KMgCl3•6(H2O). Nó có màu biến đổi từ vàng sang trắng, đỏ, và đôi khi không màu hoặc màu xanh. Nó thường thành khối lớn dạng sợi với một ít tinh thể thoi giả lục lăng (pseudohexagonal orthorhombic). Cacnalit dễ bị chảy do hấp thụ độ ẩm từ không khí xung quanh, nên mẫu vật phải được lưu trữ trong hộp kín.

Cacnalit từ nước Nga

Cacnalit được kỹ sư khai thác mỏ người Phổ Rudolf von Carnall (1804-1874) mô tả lần đầu tiên vào năm 1856 từ nơi tìm thấy ở địa tầng Staßfurt, bang Sachsen-Anhalt, Đức, và được đặt theo tên ông.

Phân bố trong tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Sự cộng sinh khoáng vật dựa trên một vài tính chất vật lý bao gồm halit, anhydrit, dolomit, thạch cao, kainit, kieserit, polyhalit, và sylvit.[5][6][7]

Cacnalit được tìm thấy trong các mỏ trầm tích muốn biển.[8] Các khoáng vật cacnalit là các trầm tích dạng evaporit. Evaporit được hình thành do quá trình bốc hơi nước biển. Dòng chảy vào vực nước phản thấp hơn lượng bốc hơi hoặc lượng nước sử dụng. Điều này tạo ra một giai đoạn chủ yếu bốc bơi kéo dài. Trong các thí nghiệm môi trường được kiểm soát, các halua hình thành khi 10%–20% mẫu nước ban đầu còn lại.[9] Gần hơn với 10 sylvit theo sau đó là hình thành cacnalit.[9]

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Cacnalit được sử dụng chủ yếu làm phân bón. Nó là nguồn cung cấp kali quan trọng,[7] chỉ đứng sau sylvit.[7] Cả hai loại này không phổ biến do chúng được hình thành trong giai đoạn sau của quá trình bốc hơi.[7] Các muối kali có khả năng hòa tan là các nguồn chính để sản xuất phân kali. Mặc dù kali có nhiều trong feldspar kali nhưng loại này không tan nên rất khó để tách chúng.[7] Cacnalit là nguồn cung cấp một lượng nhỏ magiê trên toàn cầu; tuy nhiên, nó là nguồn chính ở Nga.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Webmineral data
  2. ^ Handbook of Mineralogy
  3. ^ Carnallite on Mindat
  4. ^ a ă Đặng Thái Minh, “Dictionnaire vietnamien - français. Les mots vietnamiens d’origine française”, Synergies Pays riverains du Mékong, n° spécial, năm 2011. ISSN: 2107-6758. Trang 78.
  5. ^ Klein, Cornelis, B. Dutrow (2007) Manual of Mineral Science, 23rd ed.John Wiley and Sons
  6. ^ Anthony, J. W., R. A. Bideaux, R. A., Bladh, K. W. and M. C. Nichols. (1997) Handbook of Mineralogy. Vol. 3 Halides, hydroxides, oxides. Mineral Data Publications, Tucson, Arizona.
  7. ^ a ă â b c d Phosphate, potash, and sulfur- A special issue. (1979) Economic Geology 74, 191-493.
  8. ^ Blatt, H. (1992) Sedimentary Petrology, 2nd ed. W.H. Freeman and Co., San Francisco.
  9. ^ a ă Smetannikov, A. F., (2010) Hydrogen Generation during the Radiolysis of Crystallization water in Carnallite and Possible Consequences of this Process Geochemistry International 49, 971-980