Calliophis bivirgata

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Calliophis bivirgatus
Calliophis intestinalis 1916.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Reptilia
Bộ (ordo)Squamata
Phân bộ (subordo)Serpentes
Phân thứ bộ (infraordo)Alethinophidia
Họ (familia)Elapidae
Chi (genus)Calliophis
Loài (species)C. bivirgatus
Danh pháp hai phần
Calliophis bivirgatus
(Boie, 1827)
Danh pháp đồng nghĩa

Calliophis bivirgatus là một loài rắn trong họ Rắn hổ. Loài này được Boie mô tả khoa học đầu tiên năm 1827.[2]


Phạm vi địa lý và phân phối[sửa | sửa mã nguồn]

Loài rắn này sinh sống trên mặt đất này xảy ra tại Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, và Miến Điện. Chúng sinh sống ở độ cao 100-1100 mét.

Có ba phân loài:

  • C. b. bivirgata - Indonesia
  • C. b. flaviceps - Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Singapore, Miến Điện
  • C. b. tetrataenia - Indonesia, Malaysia, Brunei

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này đã được đưa vào chi Maticora cho đến khi các nghiên cứu phát sinh loài cho thấy loài này thuộc nhánh Calliophis và loài có quan hệ gần calliophis intestinalis.

Chúng có cơ thể thon thả. Rắn trưởng thành có thể đạt dài 1,8 mét. Chúng có một đầu đỏ, đuôi và bụng. Lưng có màu xanh đậm đến màu đen, và nó thường có màu xanh lớn hoặc sọc trắng trên mỗi hông.

Loài rắn này, đặc biệt là khi chưa thành niên, thường bị nhầm lẫn với loài rắn sậy đầu hồng (calamaria schlegeli) khi chúng có chung môi trường sinh sống và sự bề ngoài tương tự. Nhưng nhưng loài rắn Calamaria schlegeli nhỏ hơn nhiều, đạt chiều dài tối đa 50 cm (20 in). Loài rắn sậy không độc trong khi con rắn san hô là có khả năng gây chết người. Tuyến nọc độc của loài rắn san hô xanh này dài bằng 1/4 chiều dài cơ thể của nó và là tuyến nọc độc dài nhất đối với bất kỳ loài nào trên thế giới.

Sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Loài rắn này được tìm thấy trong đống lá của rừng nguyên sinh và thứ cấp. Chúng săn bắt loài rắn khác. Khi bị đe dọa nó thường chạy trốn, nhưng nó có thể vẫn còn tại chỗ với cương đỏ đuôi của nó như là một thông điệp phòng thủ.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Grismer, L. & Chan-Ard, T. (2012). Calliophis bivirgata. Sách Đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2014.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2014. 
  2. ^ Calliophis bivirgata. The Reptile Database. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Boie F. 1827. "Bemerkungen über Merrem's Versuchs eines Systems der Amphibien. 1te Lieferung: Ophidier ". Isis von Oken 20: 508-566. (Elaps bivirgatus, p. 556).
  • Boulenger GA. 1896. Catalogue of the Snakes in the British Museum (Natural History). Volume III., Containing the Colubridæ (Opisthoglyphæ and Proteroglyphæ),... London: Trustees of the British Museum (Natural History). (Taylor and FRancis, printers). xiv + 727 pp. + Plates I-XXV. (Doliophis bivirgatus, pp. 400–401).
  • Das I. 2006. A Photographic Guide to Snakes and Other Reptiles of Borneo. Sanibel Island, Florida: Ralph Curtis Books. 144 pp. ISBN 0-88359-061-1. (Calliophis bivirgata [sic], p. 61).
  • Oshea, Mark; Halliday, Tim; Metcalf, Jonathan (editor). 2002. Reptiles and Amphibians: Smithsonian Handbooks. London: DK (Dorling Kinderley). 256 pp. ISBN 9780789493934.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]