Chấn thương tâm lý

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chấn thương tâm lý là tổn thương cho tâm trí xảy ra do một sự kiện đau khổ. Chấn thương thường là kết quả của sự căng thẳng quá mức vượt quá khả năng của một người để đối phó hoặc tích hợp những cảm xúc liên quan đến trải nghiệm đó.[1] Chấn thương có thể là kết quả của một trải nghiệm đau khổ duy nhất hoặc các sự kiện tái diễn của việc bị quá tải cảm xúc mà có thể được duy trì trong vài tuần, nhiều năm hoặc thậm chí nhiều thập kỷ khi người đó phải vật lộn để đối phó với các tình huống trước mắt, cuối cùng dẫn đến hậu quả tiêu cực nghiêm trọng và lâu dài.

Bởi vì chấn thương là khác nhau giữa các cá nhân, theo kinh nghiệm chủ quan của họ, mọi người sẽ phản ứng với các sự kiện chấn thương tương tự theo cách khác nhau. Nói cách khác, không phải tất cả những người trải qua một sự kiện chấn thương tiềm tàng sẽ thực sự trở thành chấn thương tâm lý.[2] Tuy nhiên, một số người có thể bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD) sau khi tiếp xúc với một sự kiện chấn thương lớn.[3] Sự khác biệt về tỷ lệ rủi ro này có thể được quy cho các yếu tố bảo vệ mà một số cá nhân có thể có cho phép họ đối phó với chấn thương; chúng có liên quan đến các yếu tố khí chất và môi trường từ những người khác. Một số ví dụ là các đặc điểm kiên định và tích cực tìm kiếm sự giúp đỡ.[4]

Định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM-IV-TR) định nghĩa chấn thương là trải nghiệm cá nhân trực tiếp về một sự kiện liên quan đến cái chết thực sự hoặc bị đe dọa hoặc thương tích nghiêm trọng; đe dọa đến tính toàn vẹn về thể chất của một người, chứng kiến một sự kiện liên quan đến trải nghiệm trên, tìm hiểu về cái chết bất ngờ hoặc bạo lực, tổn hại nghiêm trọng hoặc đe dọa tử vong hoặc thương tích của một thành viên gia đình hoặc đồng nghiệp thân thiết. Ký ức liên quan đến chấn thương thường rõ ràng, mạch lạc và khó quên. Phản ứng của người đó đối với các chi tiết gây khó chịu của sự kiện đau thương liên quan đến nỗi sợ hãi, bất lực hoặc kinh hoàng. Ở trẻ em, nó được biểu hiện như những hành vi vô tổ chức hoặc kích động.[5]

Chấn thương có thể được gây ra bởi một loạt các sự kiện, nhưng có một vài khía cạnh phổ biến. Thường xuyên có sự vi phạm các giả định cốt lõi của người đó về thế giới và quyền con người của họ, khiến người đó rơi vào tình trạng cực kỳ bối rối và bất an. Điều này được thấy khi các thể chế mà người đó phải phụ thuộc vàođể có được sự sống còn đã vi phạm, làm nhục, phản bội hoặc gây ra tổn thất hoặc chia ly lớn thay vì gợi lên các khía cạnh như giá trị bản thân tích cực, ranh giới an toàn và tự do cá nhân.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Trauma Definition”. Substance Abuse and Mental Health Services Administration. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2014. 
  2. ^ Storr CL, Ialongo NS, Anthony JC, Breslau N (2007). “Childhood antecedents of exposure to traumatic events and post-traumatic stress disorder”. American Journal of Psychiatry 164 (1): 119–25. PMID 17202553. doi:10.1176/ajp.2007.164.1.119. 
  3. ^ "Among individuals who do develop post-traumatic stress after exposure to a traumatic event, some develop symptoms sufficient to meet the diagnostic criteria for PTSD" Hoffman, V. F., Bose, J., Batts, K. R., Glasheen, C., Hirsch, E., Karg, R., & Hedden, S. (2016, April). Correlates of Lifetime Exposure to One or More Potentially Traumatic Events and Subsequent Posttraumatic Stress among Adults in the United States: Results from the Mental Health Surveillance Study, 2008–2012. Retrieved September 20, 2017, from https://www.samhsa.gov/data/sites/default/files/CBHSQ-DR-PTSDtrauma-
  4. ^ Wingo, Aliza P, Ressler KJ, Bradley B (2014). “Resilience characteristics mitigate tendency for harmful alcohol and illicit drug use in adults with a history of childhood abuse: A cross-sectional study of 2024 inner-city men and women”. Journal of Psychiatric Research 51: 93–99. PMC 4605671. PMID 24485848. doi:10.1016/j.jpsychires.2014.01.007. 
  5. ^ “DSM-IV-TR – DSM Library”. doi:10.1176/appi.books.9780890420249.dsm-iv-tr (không tích cực 2019-08-20). 
  6. ^ DePrince, A.P. & Freyd, J.J. (2002). “The Harm of Trauma: Pathological fear, shattered assumptions, or betrayal?” (PDF). Trong J. Kauffman. Loss of the Assumptive World: a theory of traumatic loss. New York: Brunner-Routledge. tr. 71–82.